|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 30 tháng 04, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 656. MỘT SỐ BÀI KINH VỀ LỢI LẠC CỦA NIỆM HƠI THỞ - Kinh Giác Chi (Bojjhaṅgasuttaṃ), Kinh Tóm Lược (Suddhikasuttaṃ), Kinh Thành Quả I (Paṭhamaphalasuttaṃ), Kinh Thành Quả II (Dutiyaphalasuttaṃ). . ![]()
Những bài kinh về niệm hơi thở mở ra một con đường kỳ lạ: từ
điều bình thường nhất của đời sống—một hơi thở vào, một hơi thở
ra—đi đến điều sâu thẳm nhất của hiện hữu. Không cần tìm kiếm
nơi xa xôi, không cần đối tượng huyền bí, hành giả chỉ cần ngồi
yên và nhìn vào dòng sinh diệt đang diễn ra nơi thân mình. Chính
nơi ấy, giữa nhịp thở âm thầm, tâm dần buông bỏ những ồn ào của
thế gian, trở nên trong sáng như mặt hồ không gợn sóng. Từ sự
tỉnh thức ban đầu, chánh niệm lớn dần lên như ánh bình minh. Nó
không chỉ giữ hơi thở, mà dần dần soi chiếu toàn bộ kinh nghiệm
sống: thân, thọ, tâm và pháp. Khi ánh sáng ấy lan rộng, những
yếu tố giác ngộ lần lượt sinh khởi—từ niệm, trạch pháp, tinh
tấn, cho đến hỷ, khinh an, định và xả—như những cánh hoa nở ra
tự nhiên trên một thân cây đã đủ duyên. Không có gì bị ép buộc,
không có gì phải đạt lấy; tất cả chỉ là sự chín muồi của một
tiến trình nội tâm được nuôi dưỡng đúng cách. Và rồi, trong sự
tĩnh lặng sâu kín ấy, hành giả nhận ra một điều rất giản dị: mọi
thứ đều đang trôi qua. Hơi thở sinh rồi diệt, cảm thọ đến rồi
đi, ngay cả niềm an lạc vi tế cũng không dừng lại. Khi thấy rõ
điều đó, tâm không còn nắm giữ, không còn chống đối. Chính trong
sự buông bỏ không gượng ép ấy, một tự do không lời hiển lộ—không
phải là cái gì được thêm vào, mà là cái gì luôn có mặt khi mọi
chấp thủ lặng yên. Và từ một hơi thở rất nhỏ, cánh cửa giải
thoát đã mở ra.
Kinh Văn
Kinh Giác Chi
(Bojjhaṅgasuttaṃ)
978. “ānāpānassati, bhikkhave,
bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā. kathaṃ bhāvitā
ca, bhikkhave, ānāpānassati kathaṃ bahulīkatā mahapphalā hoti
mahānisaṃsā? idha, bhikkhave, bhikkhu ānāpānassatisahagataṃ
satisambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ
nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ, ānāpānassatisahagataṃ
dhammavicayasambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ...
ānāpānassatisahagataṃ upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti
vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ.
evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, ānāpānassati evaṃ bahulīkatā
mahapphalā hoti mahānisaṃsā”ti. dutiyaṃ.
“Này các Tỳ-khưu, niệm hơi thở, khi được tu tập và làm cho sung mãn, đưa
đến quả lớn và lợi ích lớn. Và này các Tỳ-khưu, niệm hơi thở
được tu tập và làm cho sung mãn như thế nào để đưa đến quả lớn
và lợi ích lớn?
Ở đây, này các Tỳ-khưu, một vị Tỳ-khưu tu tập niệm giác chi cùng với niệm
hơi thở, y cứ trên viễn ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến giải
thoát. Vị ấy tu tập trạch pháp giác chi… [313] … xả giác chi
cùng với niệm hơi thở, y cứ trên viễn ly, ly tham, đoạn diệt,
hướng đến giải thoát.
Này các Tỳ-khưu, chính theo cách này, niệm hơi thở được tu tập và làm cho
sung mãn, đưa đến quả lớn và lợi ích lớn.”
Kinh Tóm Lược
(Suddhikasuttaṃ)
979. “ānāpānassati, bhikkhave,
bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā. kathaṃ bhāvitā
ca, bhikkhave, ānāpānassati kathaṃ bahulīkatā mahapphalā hoti
mahānisaṃsā? idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā
rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā
ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. so satova
assasati, satova passasati ... pe ... ‘paṭinissaggānupassī
assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti
sikkhati. evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, ānāpānassati evaṃ
bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā”ti. tatiyaṃ.
“Này các Tỳ-khưu, niệm hơi thở, khi được tu tập và làm cho sung mãn, đưa
đến quả lớn và lợi ích lớn. Và này các Tỳ-khưu, niệm hơi thở
được tu tập và làm cho sung mãn như thế nào để đưa đến quả lớn
và lợi ích lớn?
Ở đây, này các Tỳ-khưu, một vị Tỳ-khưu đi đến rừng, đến gốc cây, hoặc đến
một am trống, ngồi xuống; xếp chân kiết già, thân thẳng, thiết
lập chánh niệm trước mặt, chỉ chánh niệm, vị ấy thở vào; chánh
niệm, vị ấy thở ra… (tất cả như đoạn §1)…
Vị ấy tập: ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vào’; vị ấy tập: ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ
thở ra.’
Này các Tỳ-khưu, chính theo cách này, niệm hơi thở được tu tập và làm cho
sung mãn, đưa đến quả lớn và lợi ích lớn.”
Kinh Thành Quả I
(Paṭhamaphalasuttaṃ)
980. “ānāpānassati, bhikkhave,
bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā. kathaṃ bhāvitā
ca, bhikkhave, ānāpānassati kathaṃ bahulīkatā mahapphalā hoti
mahānisaṃsā? idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā
rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā
ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. so satova
assasati, satova passasati ... pe ... ‘paṭinissaggānupassī
assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti
sikkhati. evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, ānāpānassati evaṃ
bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā. evaṃ bhāvitāya kho,
bhikkhave, ānāpānassatiyā evaṃ bahulīkatāya dvinnaṃ phalānaṃ
aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ — diṭṭheva dhamme aññā, sati vā
upādisese anāgāmitā”ti. catutthaṃ.
(Tất cả như bài kinh trước, với phần thêm sau:)
[314]
hoặc là thắng trí ngay trong đời này,
Kinh Thành Quả II
(Dutiyaphalasuttaṃ)
981. “ānāpānassati, bhikkhave,
bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā. kathaṃ bhāvitā
ca, bhikkhave, ānāpānassati kathaṃ bahulīkatā mahapphalā hoti
mahānisaṃsā? idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā
rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā
ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. so satova
assasati, satova passasati ... pe ... ‘paṭinissaggānupassī
assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti
sikkhati. evaṃ bhāvitā kho, bhikkhave, ānāpānassati evaṃ
bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṃsā.
(Tất cả như kinh số §3, với phần thêm sau:)
“Này các Tỳ-khưu, khi niệm hơi thở được tu tập và làm cho sung mãn như
vậy, có thể mong đợi bảy quả và lợi ích. Bảy là gì?
1.
Chứng đạt thắng trí ngay trong đời này
một cách sớm chóng.
2.
Nếu không chứng đạt sớm trong đời này,
thì chứng đạt vào lúc lâm chung.
3.
Nếu không chứng đạt trong đời này hay
lúc lâm chung, thì do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy trở
thành người đạt Niết-bàn trong trung hữu
(Trung gian niết-bàn)
(antarā-parinibbāyī).
4.
Nếu không đạt như vậy, thì do đoạn tận
năm hạ phần kiết sử, vị ấy trở thành người đạt Niết-bàn khi vừa
tái sinh (Sinh bang niết-bàn)
(upahacca-parinibbāyī).
5.
Nếu không đạt như vậy, thì do đoạn tận
năm hạ phần kiết sử, vị ấy trở thành người đạt Niết-bàn không
cần nỗ lực (Vô hành niết-bàn) (asaṅkhāra-parinibbāyī).
6.
Nếu không đạt như vậy, thì do đoạn tận
năm hạ phần kiết sử, vị ấy trở thành người đạt Niết-bàn với nỗ
lực (hữu hành Niết-bàn) (sasaṅkhāra-parinibbāyī).
7.
Nếu không đạt như vậy, thì do đoạn tận
năm hạ phần kiết sử, vị ấy trở thành người tiến đến cõi
Akaniṭṭha. (Thượng lưu sắc cứu cánh) (Uddhaṃsoto Akaniṭṭhagāmī):
Này các Tỳ-khưu, khi niệm hơi thở được tu tập và làm cho sung mãn như vậy,
thì bảy quả và lợi ích này có thể được mong đợi.”
Chú Thích
Về bài kinh Giác Chi (Sutta số 2)
Bài kinh này nhấn mạnh rằng Niệm Hơi Thở là môi trường hoàn hảo để nuôi
dưỡng Thất Giác Chi (Bảy yếu tố giác ngộ). Dựa trên viễn ly, ly
tham, đoạn diệt: Đây là điều kiện tiên quyết. Niệm hơi thở không
phải để tìm kiếm thần thông hay khoái lạc, mà mục đích là để tâm
rời xa (viễn ly) các triền cái, lìa bỏ (ly tham) sự dính mắc và
chấm dứt (đoạn diệt) khổ đau.
7 quả và lợi ích trong kinh Niệm Hơi Thở
Trong đoạn kinh này, Đức Phật dạy rằng khi niệm hơi thở được tu tập viên
mãn, hành giả có thể đạt một trong bảy kết quả. Hai kết quả đầu
là A-la-hán quả, năm kết quả sau thuộc về Bất lai quả — Anāgāmī,
tức vị đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử nhưng chưa đoạn tận hoàn
toàn năm thượng phần kiết sử.
I. Hai quả đầu: A-la-hán trong đời này
1. Chứng thắng trí sớm ngay trong đời này
Đây là trường hợp hành giả nhờ tu tập niệm hơi thở mà chứng
A-la-hán quả khi còn đang
sống, trước lúc lâm chung.
“Thắng trí” ở đây không nên hiểu chỉ là thần thông, mà là
trí đoạn tận lậu hoặc
(āsavakkhaya-ñāṇa). Hành giả không còn tái sinh, vì tham, sân,
si đã được tận diệt.
2. Chứng thắng trí vào lúc lâm chung
Trường hợp thứ hai là hành giả chưa chứng A-la-hán sớm trong đời, nhưng
vào lúc cận tử, nhờ định và tuệ đã thuần thục, vị ấy chứng
lậu tận trí ngay trước khi
mạng chung.
Điểm quan trọng là vị ấy không chết như một phàm phu, cũng không chỉ tái
sinh lên Phạm thiên, mà đoạn tận lậu hoặc ngay tại ranh giới
cuối cùng của đời sống hiện tại.
II. Năm quả sau: các loại Bất lai
Nếu chưa chứng A-la-hán trong đời này, hành giả nhờ đoạn
tận năm hạ phần kiết sử sẽ
thành Bất lai.
Năm hạ phần kiết sử là:
1.
Thân kiến (sakkāya-diṭṭhi)
2.
Hoài nghi (vicikicchā)
3.
Giới cấm thủ (sīlabbataparāmāsa)
4.
Dục ái (kāmarāga)
5.
Sân (paṭigha)
Vị Bất lai không còn tái sinh vào dục giới, vì đã đoạn tận dục ái và sân.
Tuy nhiên, vị ấy vẫn còn năm thượng phần kiết sử vi tế:
1.
Ái đối với sắc giới
2.
Ái đối với vô sắc giới
3.
Mạn
4.
Trạo cử
5.
Vô minh
Do đó, vị ấy tái sinh vào Tịnh cư thiên (Suddhāvāsa) và chứng Niết-bàn tại
đó.
III. Năm loại Bất lai trong bài kinh
3. Antarā-parinibbāyī — Bậc chứng Niết-bàn trong khoảng giữa
Đây là vị Bất lai chứng A-la-hán trong khoảng giữa, tức sau khi mạng chung
ở cõi người nhưng trước khi hoàn tất tiến trình hiện hữu nơi cõi
Tịnh cư. Theo chú giải, đây là loại Bất lai có căn cơ rất bén
nhạy. Lửa phiền não còn lại quá yếu, nên ngay khi tiến trình tái
sinh hướng đến cõi thanh tịnh, vị ấy đã đoạn tận hoàn toàn lậu
hoặc. Có thể hiểu đây là trường hợp chứng đắc rất nhanh sau khi
rời đời sống này. (Theo Ngài Bodhi và một số học giả thì ý nghĩa
“trong khoảng giữa” là điều gây ra nhiều tranh luận trong Tam
Tạng Pāli)
4. Upahacca-parinibbāyī — Bậc chứng Niết-bàn khi vừa chạm
đến / vừa tái sinh
Đây là vị Bất lai chứng A-la-hán ngay sau khi tái sinh vào cõi Tịnh cư.
Khác với bậc bất lai trước, vị này không chứng trong “khoảng
giữa”, mà sau khi đã “đặt chân” vào cảnh giới mới. Nhưng do tuệ
lực rất mạnh, vị ấy chứng Niết-bàn gần như ngay lập tức sau khi
sinh lên đó. Nếu dùng hình ảnh: loại trước như ngọn lửa tắt giữa
đường; loại này như ngọn lửa tắt ngay khi vừa đến nơi.
5. Asaṅkhāra-parinibbāyī — Bậc chứng Niết-bàn không cần nỗ
lực
Đây là vị Bất lai chứng A-la-hán trong cõi Tịnh cư một cách tự nhiên,
không cần dụng công mạnh mẽ. “Asaṅkhāra” nghĩa là không cần tác
động thúc đẩy nhiều. Không phải vị ấy không tu, mà là các căn đã
quá thuần thục; chỉ cần duyên nhẹ cũng đủ làm đạo quả chín muồi.
Loại này cho thấy sức mạnh của ba-la-mật đã chín, định tuệ đã
gần viên mãn từ đời trước.
6. Sasaṅkhāra-parinibbāyī — Bậc chứng Niết-bàn với nỗ lực
Đây là vị Bất lai cần tác ý, tinh tấn, nỗ lực tu tập thêm trong cõi Tịnh
cư rồi mới chứng A-la-hán. “Sasaṅkhāra” nghĩa là có sự gia công,
có sự thúc đẩy. Vị này vẫn chắc chắn chứng Niết-bàn, nhưng cần
thời gian và công phu nhiều hơn loại trước. Điểm quan trọng: sự
khác biệt không nằm ở cứu cánh — vì cả hai đều chứng A-la-hán —
mà nằm ở mức độ dễ hay khó trong tiến trình đoạn tận các thượng
phần kiết sử.
7. Uddhaṃsoto Akaniṭṭhagāmī — Bậc thượng lưu đi đến cõi
Akaniṭṭha
Đây là loại Bất lai đi “ngược dòng lên trên”, lần lượt tái sinh qua các
cõi Tịnh cư cao hơn, cuối cùng đến Akaniṭṭha, cõi cao nhất trong
năm Tịnh cư thiên, rồi chứng Niết-bàn tại đó. Năm cõi Tịnh cư
thường được kể là: Vô phiền (Aviha), Vô nhiệt (Atappa), Thiện
kiến (Sudassa), Thiện hiện (Sudassī), Sắc cứu cánh (Akaniṭṭha)
Vị này chưa chứng A-la-hán ngay ở các tầng thấp hơn, mà tiếp tục đi lên
cho đến cõi cao nhất. Tuy vậy, vị ấy không còn trở lại dục giới,
nên vẫn là Bất lai đúng nghĩa.
Sớ Giải
Không có bản Sớ giải riêng cho các bài kinh trên. ------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tập V - Thiên Ðại Phẩm
Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra
-ooOoo-
I. Phẩm Một Pháp
2. II. Giác Chi (S.v,312)
1-2) Tại Sàvatthi... Tại đấy... nói như sau:
3) -- Niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này các Tỷ-kheo, được tu tập,
được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn. Và này
các Tỷ-kheo, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào,
niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời có quả lớn, có lợi ích lớn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu
với niệm hơi thở vô, hơi thở ra, liên hệ đến viễn ly, liên hệ
đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; tu tập
trạch pháp giác chi... ; tu tập tinh tấn giác chi... ; tu tập hỷ
giác chi... ; tu tập khinh an giác chi...; tu tập niệm giác
chi...; tu tập định giác chi...; tu tập xả giác chi câu hữu với
niệm hơi thở vô, hơi thở ra, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly
tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
5) Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như vậy,
niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời có quả lớn, có lợi ích lớn.
3. III. Thanh Tịnh (S.v,313)
1-2) Sàvatthi... Ở đấy... thuyết như sau:
3) -- Niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này các Tỷ-kheo, được tu tập,
được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn. Tu tập
như thế nào, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như thế nào, niệm
hơi thở vô, hơi thở ra thời có quả lớn, có lợi ích lớn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến
gốc cây, hay đi đến căn nhà trống, ngồi kiết-già, lưng thẳng,
đặt niệm trước mặt; vị ấy chánh niệm hơi thở vô, chánh niệm hơi
thở ra.
5-10) ... như kinh 1, từ đoạn 5 đến đoạn 10...
11) -- Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như
vậy, niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời có quả lớn, thời có lợi
ích lớn.
4. IV. Quả (S.v,313)
1-2) ...
3) -- Niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này các Tỷ-kheo, được tu tập,
được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn. Tu tập
như thế nào, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như thế nào, niệm
hơi thở vô, hơi thở ra có quả lớn, có lợi ích lớn?
4-10) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi
đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống, ngồi kiết-già... "Quán từ
bỏ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị
ấy tập.
11) Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như vậy,
niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời có quả lớn, có lợi ích lớn.
12) Niệm hơi thở vô, hơi thở ra được tu tập như vậy, này các
Tỷ-kheo, được làm cho sung mãn như vậy, được chờ đợi một trong
hai quả sau: Ngay trong hiện tại, được Chánh trí; nếu có dư y,
chứng quả Bất lai.
5. V. Quả (2)
(S.v,314)
1-2) ...
3) -- Niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này các Tỷ-kheo, được tu tập,
được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn. Tu tập
như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, niệm hơi thở vô, hơi
thở ra thời có quả lớn, có lợi ích lớn?
4-10) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi
đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống, ngồi... "Quán từ bỏ, tôi
sẽ thở ra", vị ấy tập.
11) Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như vậy,
niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời có quả lớn, có lợi ích lớn.
12) Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như vậy,
niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời được chờ đợi bảy quả, bảy lợi
ích. Thế nào là bảy quả, bảy lợi ích?
13) Ngay trong hiện tại, lập tức thành tựu Chánh trí. Nếu ngay
trong hiện tại không lập tức thành tựu Chánh trí, thời khi mệnh
chung, thành tựu Chánh trí. Nếu khi mệnh chung không thành tựu
Chánh trí, thời sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được
Trung gian Bát-niết-bàn, được Tổn hại Bát-niết-bàn, được Vô hành
Bát-niết-bàn, được Hữu hành Bát-niết-bàn, được Thượng lưu, đạt
đến Sắc cứu cánh thiên.
14) Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như vậy,
niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời được chờ đợi bảy quả, bảy lợi
ích này.
|