BÀI HỌC HẰNG NGÀY
Thứ Ba ngày 03 tháng
08, 2021
GIÁO TRÌNH KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
CHƯƠNG 1. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN,
PHẨM
THIÊU CHÁY (S.i,35)
NGÀY
03/08/2021
Bài 10. Kinh Thợ Đồ Gốm (Ghaṭīkārasuttaṃ)-Có kiếp trước không có đời sau.
Trong cuộc trầm luân khó biết
kiếp nầy là tri âm mà kiếp sau có còn là tri kỷ. Những tương
duyên bằng hữu, thầy trò cũng lắm chuyện xoay chiều. Khó ai
tưởng tượng thợ gốm nghèo mạt Ghaṭīkāra là một đại cư sĩ hộ
pháp cho một vị chánh đẳng chánh giác là Thế Tôn Kassapa.
Ghaṭīkāra tự mình cũng chẳng biết người bạn trẻ chí thân là
Jotipàla sau nầy cũng là một vị chánh đẳng chánh giác. Dù
sau cũng trong khả năng hữu hạn biết được bảy tỳ kheo đời
trước bây giờ xuất gia theo Đức Thế Tôn Gotama trong hiện
tại đồng chứng A na hàm và tại cõi tịnh cư đã chứng quả vô
sanh ứng cúng. Dù thế nào, thì theo lời Phật dạy, cố nhân
gặp lại cả hai đều mang thân tối hậu đúng là khéo tu.

''Avihaṃ upapannāse, vimuttā satta bhikkhavo.
Rāgadosaparikkhīṇā, tiṇṇā loke visattikanti..
''Ke ca te ataruṃ paṅkaṃ [saṅgaṃ (sī. syā.)], maccudheyyaṃ suduttaraṃ.
Ke hitvā mānusaṃ dehaṃ, dibbayogaṃ upaccagunti..
''Upako palagaṇḍo ca, pukkusāti ca te tayo.
Bhaddiyo khaṇḍadevo ca, bāhuraggi ca siṅgiyo [bahudantī ca piṅgayo (sī.)].
Te hitvā mānusaṃ dehaṃ, dibbayogaṃ upaccagunti..
''Ðược sanh Vô phiền thiên,
Bảy Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn tận tham và sân,
Vượt qua đời triền phược.
Vượt bùn, họ là ai,
Khéo vượt lệnh thần chết,
Sau khi bỏ thân người,
Họ thoát ách chư Thiên?
Họ là Upaka,
Với Pukkusāti,
Hợp thành là ba vị,
Và Phalaganda,
Lại thêm Bhaddiya,
Với Khandadeva,
Và Bāhuraggi,
Cùng với Pingiya,
Sau khi bỏ thân người,
Họ thoát ách chư Thiên.
Bản hiệu đính:
(Thế Tôn):
''Kusalī bhāsasī tesaṃ, mārapāsappahāyinaṃ.
Kassa te dhammamaññāya, acchiduṃ bhavabandhananti..
''Người nói điều tốt lành,
Về bảy Tỷ-kheo ấy,
Họ thoát ly, đoạn trừ,
Các cạm bẫy Ma vương,
Pháp họ biết, của ai,
Ðoạn diệt hữu kiết sử?
Bản hiệu đính:
(Ghaṭīkāra):
''Kusalī bhāsasī tesaṃ, mārapāsappahāyinaṃ.
Kassa te dhammamaññāya, acchiduṃ bhavabandhananti..
''Na aññatra bhagavatā, nāññatra tava sāsanā.
Yassa te dhammamaññāya, acchiduṃ bhavabandhanaṃ..
''Yattha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhati.
Taṃ te dhammaṃ idhaññāya, acchiduṃ bhavabandhananti..
''Không ai ngoài Thế Tôn,
Chính thật giáo lý Ngài,
Họ biết pháp của Ngài,
Ðoạn được hữu kiết sử.
Chỗ nào danh và sắc,
Ðược đoạn diệt, không dư,
Họ học được pháp ấy,
Ở đây từ nơi Ngài.
Nhờ vậy họ đoạn trừ,
Hữu kiết sử trói buộc.
Bản hiệu đính:
(Thế
Tôn):
''Gambhīraṃ bhāsasī vācaṃ, dubbijānaṃ sudubbudhaṃ.
Kassa tvaṃ dhammamaññāya, vācaṃ bhāsasi īdisanti..
''Lời nói người thâm sâu,
Khó biết, khó chứng ngộ,
Pháp Ông biết của ai,
Sao Ông không nói được?
Bản hiệu đính:
(Ghaṭīkāra):
''Kumbhakāro pure āsiṃ, vekaḷiṅge [vehaḷiṅge (sī.), vebhaḷiṅge (syā. kaṃ.)] ghaṭīkaro. ,
Mātāpettibharo āsiṃ, kassapassa upāsako..
''Virato methunā dhammā, brahmacārī nirāmiso.
Ahuvā te sagāmeyyo, ahuvā te pure sakhā..
''Sohamete pajānāmi, vimutte satta bhikkhavo.
Rāgadosaparikkhīṇe, tiṇṇe loke visattikanti..
''Thuở xưa, con thợ gốm,
Tại Vehalinga,
Và con được tên gọi,
Là Ghaṭīkāra.
Chính con lo nuôi dưỡng,
Cả mẹ lẫn cả cha,
Ðối với Phật Ca-diếp,
Con đệ tử tại gia.
Con viễn ly dâm dục,
Phạm hạnh, không thế vật,
Thuở xưa con đồng hương,
Cũng là bạn của họ,
Do vậy con biết họ,
Bảy Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn tận tham và sân,
Vượt qua đời triền phược.
Bản hiệu đính:
(Thế Tôn):
''Evametaṃ tadā āsi, yathā bhāsasi bhaggava.
Kumbhakāro pure āsi, vekaḷiṅge ghaṭīkaro.
Mātāpettibharo āsi, kassapassa upāsako..
''Virato methunā dhammā, brahmacārī nirāmiso.
Ahuvā me sagāmeyyo, ahuvā me pure sakhāti..
''Evametaṃ purāṇānaṃ, sahāyānaṃ ahu saṅgamo.
Ubhinnaṃ bhāvitattānaṃ, sarīrantimadhārinanti..
''Vậy này Bhaggava,
Chính như Ông vừa nói,
Thuở xưa, Ông thợ gốm,
Tại Vehalinga,
Và Ông được tên gọi,
Là Ghaṭīkāra.
Chính Ông lo nuôi dưỡng,
Cả mẹ lẫn cả cha,
Ðối với Phật Ca-diếp,
Ông đệ tử tại gia.
Ông viễn ly dâm dục,
Phạm hạnh, không thế vật.
Thuở xưa Ông đồng hương,
Cũng là bạn của Ta,
Như vậy là hội ngộ,
Giữa những bạn thời xưa,
Cả hai khéo tu tập,
Mang thân này tối hậu.
Bản hiệu đính:
[Thiên
tử Ghatı̄ḳāra]
Sanh vào cõi Vô
Phiền
Bảy tỷ kheo
giải thoát
Không còn tham
và sân
Vượt dòng ái ở
đời
[Thế Tôn]
Ai đã vượt vũng
lầy
Cảnh giới của
thần chết
Ai bỏ thân nhân
loại
Thoát buộc ràng
thiên giới?
[Thiên tử Ghatı̄ḳāra]
Họ là Upaka,
Cùng Pukkusāti
Và Phalaganda
Hợp lại thành
ba vị
Rồi thêm
Bhaddiya
Cộng Khandadeva
Và Bāhuraggi
Cùng với
Pingiya
Sau khi bỏ thân
người
Không ràng buộc
thiên giới
[Thế Tôn]
Người nói điều
tốt đẹp
Về những vị tỷ
kheo
Đã thoát bẫy Ma
vương
Họ liễu pháp
của ai?
Từ đâu đoạn
kiết sử?
[Thiên tử Ghatı̄ḳāra]
Không ai ngoài
Thế Tôn
Không ngoài
giáo pháp Ngài
Họ lãnh hội
chánh pháp
Đoạn trừ các
kiến sử
Chỗ nào danh
sắc đoạn
Không còn chút
dư tàn
Do liễu ngộ
chánh pháp
Họ đoạn
hữu-kiết-sử
[Thế Tôn]
Người nói lời
thâm sâu
Không dễ hiểu,
dễ biết
Lãnh hội pháp
của ai?
Nói được lời
như vậy
[Thiên tử Ghatı̄ḳāra]
Kiếp xưa là thợ
gốm
Tên
Ghatı̄ḳāra
Tại Vehalinga
Đệ tử Phật Ca
Diếp
Con phụng dưỡng
cha mẹ
Con từ bỏ dâm
dục
Sống phạm hạnh
vô cấu
Ở cùng làng với
Ngài
Là bạn thân của
Ngài
Cũng là người
biết rõ
Bảy tỳ kheo
(nói trên)
Đã đoạn tận
tham và sân
Đã vượt qua
dòng ái.
[Thế Tôn]
Như vậy,
Bhaggava
Chính như lời
vừa nói
Kiếp xưa là thợ
gốm
Tên
Ghatı̄ḳāra
Tại Vehalinga
Đệ tử Phật Ca
Diếp
Con phụng dưỡng
cha mẹ
Con từ bỏ dâm
dục
Sống phạm hạnh
vô cấu
Ở cùng làng với
Ta
Là bạn thân của
Ta
Vậy cố nhân gặp
lại
Cả hai đã khéo
tu
Mang tấm thân
sau cùng

Te hitvā mānusaṃ dehaṃ, dibbayogaṃ upaccagunti: “Sau khi từ
bỏ thân người, vượt lên trên những ràng buộc của thiên giới”
chỉ cho sự chấm dứt luân hồi trong ba cõi.

Trong số bảy vị tỳ kheo được đề cập chỉ có Upaka,
Pukkusāti,và Pingiya được biết qua các giai thoại. Bốn vị
còn lại không có chi tiết cụ thể.
Theo Sớ giải thì bản thân thiên tử Ghaṭīkāra cũng đã chứng A la hán khi
đến đãnh lễ Phật.