|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, ngày 15 tháng 08, 2021 MÔN HỌC THẮNG PHÁP ABHIDHAMMA
HƯỚNG DẪN BÀI HỌC
Tâm sở tịnh hảo có 25 thứ, gồm 19 tâm sở biến hành và 6 tâm sở biệt cảnh. -Phần I. Tâm sở tịnh hảo biến hành (sobhanasādhāraṇacetasika) có 19 thứ là:
1. Tín (saddhā)
Giải thích:
Tâm sở tịnh hảo là những tâm sở có đặc tính
tốt đẹp; chúng tương ưng với ba căn tịnh hảo (ba căn
thiện, ba căn vô ký) là vô tham căn, vô sân căn và vô si
căn; Chúng phối hợp tạo ra những tâm tịnh hảo dục giới, sắc
giới, vô sắc giới và siêu thế. Tâm sở tịnh hảo là hành uẩn.
Tâm sở tịnh hảo có hai thành phần: tịnh hảo biến hành và
tịnh hảo biệt cảnh.
Tâm sở tịnh hảo biến hành là những thứ tâm sở đẹp phối hợp
phổ thông trong tất cả tâm tịnh hảo, không có tâm tịnh hảo
nào thiếu những tâm sở nầy.
Tâm sở tịnh hảo biệt cảnh là những thứ tâm sở đẹp mặc dù
phối hợp với tâm tịnh hảo nhưng chỉ hợp với những tâm tương
thích, một số tâm tịnh hảo chúng không phối hợp.
Tâm sở tịnh hảo
biến hành
có 19 thứ:
(1)Tín (saddhā) chỉ nên hiểu đơn thuần là
một tính chất đẹp tạo thành tâm tịnh hảo, chứ chưa phải đây
là một đức tin tam bảo …v.v… vì một tín đồ ở tôn giáo
khác làm điều thiện vẫn có tâm sở tín phối hợp, hoặc như
trong giấc ngủ tâm hữu phần (bhavaṅga)
diễn ra vẫn có tâm sở tín phối hợp …v.v…
thì tín tâm sở trong trường
hợp ấy không thể là đức tin tam bảo. Ở đây, tâm sở tín một
thuộc tánh tịnh hảo biến hành chỉ có nghĩa là tính chất giúp
tâm trong sáng, như đồ lọc nước làm cho nước trở nên sạch.
Tâm sở tín có tướng trạng là sự thanh khiết
(saddahanalakkhaṇā),
có biểu hiện là không bẩn đục (akālussiyapaccupaṭṭhānā),
nhân gần cho tín tâm sở là có cái cần thanh lọc
(saddheyyavatthupadaṭṭhānā).
(2)Niệm (sati) cũng
chỉ nên hiểu đơn thuần là một tính chất đẹp của tâm tịnh
hảo, chưa nói đến khái niệm tu hành, vì tất cả tâm tịnh hảo
đều có thuộc tánh niệm (saticetasika). Ở đây niệm tâm
sở có nghĩa là nhận biết đối tượng (cảnh) một cách
chính xác. Tướng trạng của niệm là tỉnh táo, không lơ là
(apilāpanalakkhaṇā), có nhiệm vụ là không nhầm
lẫn (asammosarasā), có biểu hiện là trông
chừng cảnh (ārakkhapaccupaṭṭhānā), nhân gần là sự nhớ chắc
(thirasaññāpadaṭṭhānā).
(3) Tàm
(hiri) cũng chưa
nói đến khái niệm đạo đức mà chỉ nên nói đặc tính đơn thuần
là một thuộc tánh của tâm tịnh hảo. Tàm tâm sở có nghĩa như
là chất miễn nhiễm cái xấu (phiền não) của tâm tịnh
hảo. Tàm tâm sở không được Luận trình bày bốn ý nghĩa thực
tính, mà chỉ mượn bốn ý nghĩa của tàm pháp trong khái niệm
đạo đức: Tàm có tướng trạng là gớm điều ác (pāpato
jigucchanalakkhaṇā), có nhiệm vụ là không làm
ác do hổ thẹn (lajjākārena
pāpānaṃ akaraṇarasā),
có
biểu hiện là chối bỏ điều ác do hổ thẹn (lajjākārena
pāpato
saṅkocanapaccupaṭṭhānā),
có
nhân gần là tự trọng (attagāravapadaṭṭhānā).
(4)Quý
(ottappa)
cũng như tâm sở tàm (hiri), là một thuộc tánh của
tâm tịnh hảo, chỉ đơn thuần là tính chất làm cho các pháp
đồng sanh miễn nhiễm cái xấu; Tâm sở quý cũng không được
Luận trình bày bốn ý nghĩa thực tính mà chỉ mượn bốn ý nghĩa
của thiện pháp Quý trong khái niệm đạo đức: Quý có tướng
trạng là sợ điều ác (pāpato
uttāsanalakkhaṇaṃ),
có nhiệm vụ là không làm ác do sợ (uttāsākārena
pāpānaṃ akaraṇarasaṃ),
có
biểu hiện là chối bỏ điều ác do sợ (uttāsākārena
pāpato saṅkocanapaccupaṭṭhānaṃ), có nhân gần là trọng người
khác (paragāravapadaṭṭhānaṃ).
(5)Vô
tham (alobha) chính là căn vô tham (alobhamūla). Tâm sở vô tham là tố chất
của tâm tịnh hảo, đặc tính của vô tham là không dính mắc,
không mê đắm đối tượng. Tâm sở vô tham có tướng trạng là sự
không bám dính cảnh (ārammaṇe
alaggabhāvalakkhaṇo), có nhiệm vụ là không giữ
lấy (apariggaharaso), có biểu hiện là không dính
(anallīnabhāvapaccupaṭṭhāno), nhân gần là khéo tác ý
(yonisomanasikārapadaṭṭhāno).
(6)Vô
sân (adosa) chính là căn vô sân (adosamūla).
Tâm sở vô sân là tính chất
mát mẻ của tâm tịnh hảo, có tướng trạng là không hung hăn
(acaṇdikkalakkhaṇo),
có
nhiệm vụ là bài trừ nóng bức (pariḷāhavinayaraso),
có biểu hiện là thái độ hiền hoà (somabhāvapaccupaṭṭhāno),
nhân gần là khéo tác ý (yonisomanasikārapadaṭṭhāno).
(7)Trung
hoà (tatramajjhattatā)
là
tính chất điều hoà các pháp đồng sanh ở mức độ vừa phải,
không thái quá. Tâm sở trung hoà có tướng trạng là đem lại
thăng bằng cho tâm và tâm sở (cittacetasikānaṃ
samavāhitalakkhaṇā),
có
nhiệm vụ là ngăn chận sự thái quá kém hoặc hơn (ūnādhikatānivāraṇarasā)
có biểu hiện là tình trạng trung bình (majjhattabhāvapaccupaṭṭhānā),
nhân gần là các pháp tương
ưng (sampayuttadhammapadaṭṭhānā).
(8)Tịnh
thân (kāyapassaddhi) và (9) Tịnh tâm
(cittapassaddhi).
Sự
yên tĩnh của thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn, gọi là tịnh
thân; sự yên tĩnh của thức uẩn gọi là tịnh tâm. Thân và tâm
ở đây phải hiểu là ám chỉ tứ danh uẩn. Hai tâm sở nầy có
cùng đặc tính là trạng thái yên bình của danh uẩn, đối lập
với phiền não trạo hối làm xao động thân tâm. Tướng trạng
của hai tâm sở nầy là lắng yên sự bồn chồn của thân tâm (kāyacittadarathavūpasamalakkhaṇā)
nhiệm vụ chúng là trấn áp sự
rạo rực của thân tâm (aparipphandanasītibhāvapaccupaṭṭhānā) nhân gần cho chúng là có
thân tâm _ tâm sở và tâm _ (kāyacittapadaṭṭhānā).
(10)Khinh thân
(kāyalahutā)
và (11) Khinh tâm (cittalahutā).
Sự nhẹ nhàng của ba uẩn tâm sở gọi là khinh thân; Sự nhẹ
nhàng của thức uẩn gọi là khinh tâm. Hai tâm sở nầy cùng có
đặc tính là trạng thái nhẹ nhàng của bốn danh uẩn, đối lập
với phiền não hôn thuỵ làm nặng nề thân tâm. Hai tâm sở nầy
có tướng trạng là vắng lặng sự nặng nề của thân tâm (kāyacittagarubhāvavūpasamalakkhaṇā),
có
nhiệm vụ là trấn áp sự nặng nề của thân tâm (kāyacittagarubhāvanimmaddanarasā),
có
biểu hiện là sự không trì trệ của thân tâm (kāyacittānaṃ
adandhatapaccupaṭṭhānā),
nhân
gần là thân và tâm (kāyacittapadaṭṭhanā).
(12)Nhu thân (kāyamudutā) và (13) Nhu tâm (cittamudutā). Sự mềm dẻo của ba uẩn tâm
sở là nhu thân; Sự mềm dẻo của thức uẩn là nhu tâm. Hai tâm
sở nầy có cùng đặc tính là trạng thái nhu nhuyến của bốn
danh uẩn, đối lập với phiền não tà kiến và kiêu mạn làm cho
thân tâm cứng ngắt. Hai tâm sở nầy có tướng trạng là giải
toả sự cứng ngắt của thân tâm (kāyacittathambhavūpasamalakkhaṇā),
có nhiệm vụ là trấn áp sự cứng cỏi của thân tâm (kāyacittathaddhabhāvanimmaddanarasā),
có biểu hiện là không đối kháng (appaṭighātapaccupaṭṭhāna),
nhân gần là thân và tâm (kāyacittapadaṭṭhāna).
(14)Thích
thân (kāyakammaññatā) và (15) Thích tâm (cittakammaññatā).
Sự thích ứng của ba uẩn tâm sở gọi là thích thân; Sự thích
ứng của thức uẩn gọi là thích tâm. Hai tâm sở nầy cùng có
đặc tính là tính cách thích ứng hoạt động, đối lập với các
triền cái còn lại mà gây nên sự bất xứng của thân tâm. Hai
tâm sở nầy có tướng trạng là giải toả sự không tương thích
của thân tâm (kāyacittākammaññabhāvavūpasamalakkhaṇā), có nhiệm vụ là dẹp trừ
cách không thích ứng của thân tâm (kāyacittākammaññabhāvanimmaddanarasā),
có biểu hiện là thành công sự bắt cảnh (ārammaṇakaraṇasampattipaccupaṭṭhānā), nhân gần là có thân và tâm
(kāyacittapadaṭṭhānā).
(16)Thuần
thân (kāyapāguññatā) và (17) Thuần tâm (cittapāguññatā). Sự thuần thục của ba uẩn
tâm sở gọi là thuần thân; Sự thuần thục của thức uẩn gọi là
thuần tâm. Hai tâm sở nầy cùng có đặc tính là cách điêu
luyện của thân tâm, đối lập với sự bất tín …v.v… mà
gây nên sự bệnh hoạn của thân tâm. Hai tâm sở nầy có tướng
trạng là tính cách vô bệnh của thân tâm (kāyacittānaṃ
agelaññabhāvalakkhaṇā),
có nhiệm vụ là dẹp trừ sự bệnh hoạn của tâm (kāyacittagelaññamimmaddanarasā), có biểu hiện là không có
tổn hại (nirādīnavapaccupaṭṭhānā), nhân gần là có thân và tâm
(kāyacittapadaṭṭhānā).
(18) Chánh
thân (kāyujukatā)
và
(19) Chánh tâm (cittujukatā).
Tính cách ngay thẳng của ba danh uẩn tâm sở gọi là chánh
thân; Tính cách ngay thẳng của thức uẩn gọi là chánh tâm.
Hai tâm sở nầy cùng có đặc tính ngay thẳng, đối lập với hư
nguỵ, man trá …v.v… gây nên tính xảo quyệt của thân
tâm. Hai tâm sở nầy có tướng trạng là sự trung thực của thân
tâm (kāyacitta_ajjiavalakkhaṇā), có nhiệm vụ là dẹp trừ sự
xảo quyệt của thân tâm (kāyacittakuṭilabhāvanimmaddanarasā),
có biểu hiện là tính
thẳng ngay (ajimhatāpaccupaṭṭhānā),
nhân gần là có thân và tâm
(kāyacittapadaṭṭhānā).
Mười chín tâm sở tịnh hảo biến hành đều có mặt trong 91 tâm tịnh hảo là 24 tâm
dục giới tịnh hảo, 27 tâm đáo đại, 40 tâm siêu thế. Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêuo:p>
@@@@@ I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |