|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 23 tháng 08, 2021
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN PHẦN I-ĐỨC PHẬT Bài 3. ĐỨC PHẬT LỊCH SỬ Đức Phật là nhân
vật lịch sử vĩ đại. Cuộc đời và lời dạy
của Ngài được ghi lại trong Tam Tạng
kinh điển đồ sộ. Một tôn giáo khởi đầu
đương thời với Đức Phật là Đạo Jain có
nhiều ghi chép về Đức Phật với tên gọi
Đại Sa Môn Gotama. Ngay sau khi Đức Phật
viên tịch không lâu, Ấn Độ trãi qua
những thay đổi lớn về chính trị, văn quá
để rồi ra đời triều đại Mauriyan (Khổng
Tước) mà vị đại đế nổi bật nhất của
triều đại nầy chính là vua Asoka. Những
trụ đá được vua Asoka tạo dựng đánh dấu
những nơi liên hệ tới cuộc đời của Đức
Phật được tìm thấy tướng Alexander
Cunningham vào cuối thế kỷ 19 xác lập
những giá trị lịch sử về cuộc đời của
Đức Phật. Mặc dù những người Phật tử,
hay không phải Phật tử, có xem Đức Phật
là một thần linh, một nhân vật thần
thoại, một ngẫu tượng huyền học thì một
Đức Phật lịch sử vẫn hiển nhiên với đầy
đủ những chi tiết rõ nét. Niên đại Có nhiều cách xác định niên đại về
Đức Phật. Một cách tính đơn giản nhất là Phật lịch. Phật
lịch tính từ năm Đức Thế Tôn viên tịch. Sau khi Đức Phật
viên tịch có hai di sản lớn Ngài để lại là giáo pháp và Tăng
lữ. Chư tăng có truyền thống là tôn trọng nhau qua hạ lạp.
Mỗi mùa an cư kiết hạ
hằng năm vị trưởng lão trong mỗi chùa phải nêu rõ: “Đây là
mùa mưa Phật lịch năm thứ… kể từ khi Phật viên tịch” để ghi
nhớ về tuổi đạo của chư tỳ kheo. Đây là niên lịch duy nhất
được sử dụng trước khi có Tây lịch (Gregorian calendar). Để tính năm đản sinh của Phật lấy
Phật lịch cộng 80 năm trụ thế. Thí dụ năm Phật lịch 2565
như vậy Đức Phật ra đời cách đây 2645 năm. Tính một cách cố định theo Tây lịch
thì Đức Phật ra đời năm 624 trước công nguyên (B.C.E).
Ngài thành đạo năm 589 B.C.E. Ngài viên tịch năm 544 B.C.E. Những con số về niên đại theo Hán
tạng của Phật giáo Trung Hoa hoàn toàn không khả tín và
không có cơ sở như Đức Phật hoằng hoá 49 năm, rời hoàng cung
năm 19 tuổi …Ngay cả ba ngày vía đản sanh rằm tháng tư,
thành đạo rằm tháng chạp và niết bàn rằm tháng hai theo Âm
lịch đều không có cơ sở lịch sử. Địa lý Ấn độ là quốc gia có nhiều thay đổi
lớn về biên giới xuyên suốt từ cổ đại đến đương đại. Đã
có thời Ấn độ bao gồm Afghanistan, Pakistan, Nepal, Bhutan,
Banghadesh. Đó là một đại lục với hình thoi mà ba phần tư
bao bọc bởi biển. Phía bắc là bức tường sừng sững của rặng
Himalaya. Phía tây là sa mạc mênh mông. Tất cả tạo nên một
cô lập địa dư trong nhiều thiên niên kỷ hình thành một nền
văn hoá rất riêng. Theo các nghiên cứu về nhân chủng
học thì thời thái cổ nên văn minh Ấn khởi nguồn từ lưu vực
sông Ấn Hà (Indus), sang thời cổ đại nền văn minh chuyển
sanh châu thổ sông Hằng (Ganga). Chính tại nơi nầy Đức
Thế Tôn ra đời cách đây hơn 26 thế kỷ. Lúc bấy giờ có 16
quốc độ trong lưu vực sông Hằng. Đức Phật ra đời trong vương quốc
Sakya (Thích Ca), một chư hầu của Kosala (Kiều Tát La).
Kosala cùng với Magadha (Ma Kiệt Đà là hai vương quốc lớn
mạnh nhất trong lưu vực sông Hằng thời bấy giờ. Vưong quốc
Sakya nằm dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn cùng với 3 quốc độ
khác là Koliya, Malla và Vajji. Vùng đất trong châu thổ sông Hằng
được gọi là Trung Thổ hay Trung Độ (Majjhadesa). Điều
nầy có liên hệ đặc biệt đến Đức Phật, giáo pháp và Tăng
chúng mặc dù ngày nay những trung tâm Phật giáo đã thiên di
sang các quốc gia lân cận. Người học Phật cần biết rõ những
điểm liên hệ (…)
Thân thế Đức Phật sanh
trong dòng Sát đế lỵ (khattiya), một
giai cấp cao trong xã hội Ấn. Sát đế lỵ
là giai cấp thống trị mang hai ý nghĩa
là thành phần chiến sĩ và thành phần vua
chúa. Có những điểm giai cấp bà la môn
vượt trội hơn giai cấp sát đế lỵ nhưng
ngược lại có những mặt giai cấp sát đế
lỵ có ưu thế hơn. Cha của Ngài là vua Suddhodana (Tịnh
Phạn). Mẹ là hoàng hậu Mayā Gotamī. Giòng Sakya (Thích
Ca) là bên nội. Giòng Koliya là bên ngoại của Đức Phật. Năm 16 tuổi Đức Bồ Tát đăng quang
vương vị (lễ quán đãnh sát đế lỵ) trở thành vị vua của
vương quốc nhưng không chấp chính vì vua Suddhodana lo sợ
Ngài sẽ từ bỏ ngai vàng (…) vì những phiền luỵ của việc chăn
dân trị nước. Cũng trong dịp nầy Ngài kết hôn với công nương
Yasodhara sau nầy hạ sanh một con trai là hoàng tử Rahula. Năm 29 tuổi Ngài rời bỏ hoàng cung
sau một chuyến tuần du ngoại thành chứng kiến cảnh già,
bệnh, chết, mà một người xuất gia.
Danh tánh Đức Phật mang họ
mẹ là Gotama vì văn hoá Ấn theo mẫu hệ
(…). Tên của Ngài là Siddhattha (Sĩ
Đạt Ta hay Tất Đạt Đa). Khi liệt kê danh tánh của chư Phật
thì Đức Thế Tôn được gọi là Đức Phật Gotama (âm là Cồ Đàm,
Cù Đàm hay Kiều Đàm) một danh gọi ít quen thuộc với Phật
tử Việt Nam. (Trong văn hoá Phật giáo Việt Nam chữ Kiều Đàm
phổ thông như là tên gọi di mẫu của Đức Phật, vị ni trưởng
đầu tiên của Phật giáo). Tên gọi Phật Thích Ca Mâu Ni hay
Sakya Muni thật ra có ý nghĩa là “bậc hiền thánh dòng Thích
Ca” là cách gọi tôn kính bắt nguồn từ thời vua Asoka (A
Dục) không phải là danh gọi trực tiếp như người Phật tử dùng
ngày nay. Thời Phật tại thế Người Phật tử nói đến Đức Phật
thường dùng chữ Bhagava (Đức Thế Tôn) trong lúc ngoại giáo
thường gọi Đức Phật là Sa môn Gotama. Tại các quốc gia Phật giáo khi nói
“Đức Phật” thì được mặc nhiên hiểu là Đức Phật lịch sử, Đức
Phật Gotama. Cách gọi “Đức Bổn Sư” hay Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni là cách gọi “rất Đại Thừa” vì thường đề cập nhiều vị
Phật khác nhau trong nghi lễ và sự tu học. Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |