|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 30 tháng 08, 2021
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN Bài 4. QUẢNG ĐỜI NIÊN THIẾU CỦA BẬC ĐẠI SĨ
Trong kiếp sau cùng của một bậc đại bồ
tát trước khi viên thành quả vị vô
thượng chánh giác luôn trãi qua thời
niên thiếu với những đặc điểm tương ứng
với quảng đời của một bậc đại giác sau
nầy. Ngài chào đời với sự hân hoan của
chư thiên và nhân loại. Những người thân
thích liên hệ đều sanh ra với túc duyên
đã tạo từ bao kiếp trước. Những dự báo
về con đường thoát tục trong tương lai
như một cái bóng bao trùm lên cách yêu
thương săn sóc của gia đình. Ngài nhận
được đời sống sung túc về cả hai mặt vật
chất lẫn tinh thần với đời sống nhung
lụa và nền giáo dục tốt nhất thời bấy
giờ. Ngài có một thể lực khanh kiện và
trí tuệ mẫn tiệp. Định lực và lòng từ bi
vô hạn cũng biểu hiện rõ nét. Sự thành
tựu
Phật quả không phải là ngẫu nhiên thì quảng đời niên thiếu
có nhiều đặc điểm mang tánh quyết định với phần đời còn lại
của Đức Phật.
Những dấu ấn trong sự ra đời của một bậc đại bồ tát
Đức Phật
sanh ra, thành đạo và viên tịch giữa thiên nhiên. Hoàng hậu Mayā
theo phong tục thời bấy giờ khi sanh con đầu lòng đã làm một
hành trình về cố hương để được mẹ ruột chăm sóc. Khi hoàng
hậu đi gần tới biên giới đã dừng chân tại ngự viên Lumbini.
Tại đây Đức Bồ Tát chào đời dưới cây Sālā hoa nở sái mùa.
Ngài ra đời
trong mùa xuân,
mùa sen nở giữa niềm hân hoan vô hạn của chư thiên và nhân
loại. Đó là ngày trăng tròn tháng Vesak, tháng đầu tiên
trong năm theo lịch Ấn Độ.
Phật mẫu sau
khi sanh Bậc Đại Sĩ không bao giờ trở lại đời sống với quan
hệ nam nữ bình thường.
Hoàng hậu từ
trần bảy ngày sau khi sanh nở. Thứ phi Mahāpajāpatī Gotamī
vừa là dì ruột vừa là kế mẫu của Đức Bồ Tát đã chăm sóc và
yêu thương Ngài như mẹ ruột. Sau nầy di mẫu xuất gia trở
thành vị tỳ kheo ni đầu tiên trong giáo pháp.
Sự chào đời
cùng lúc của công nương Yasodhara và hoàng tử Ānanda cũng
được ghi nhận.
Cả hai đều
có sự gắn kết đặc biệt với Đức Bồ Tát trong nhiều tiền kiếp
cũng như hiện kiếp. Yasodhara không phải chỉ là bạn đời một
kiếp mà trong rất nhiều đời. Ānanda là thị giả của Đức Phật
và là người có trọng trách trong việc kết tập kinh điển.
Dự báo về con đường thoát tục
Đạo sĩ Asita
một bậc có thiền chứng rất cao đã tự thân đến thành diện
kiến thái tử sơ sinh với lời báo trước về sự ra của Bậc Đại
Giác hoằng hoá độ sinh. Hai biểu cảm thoạt vui thoạt buồn của vị đạo sĩ đã để lại ấn
tượng sâu sắc trong lòng vua Suddhodana.
Siddattha là
cái tên được đặt từ lời tiên tri.
Trong “lễ
đặt tên” có bảy vị bà la môn thông thái đã tiên tri là thái
tử sau nầy sẽ thành tựu nguyện vọng cao cả: nếu làm vua sẽ
là đại đế; nếu xuất gia sẽ là bậc chân sư vĩ đại. Vị bà la
môn thông thái trẻ nhất là Kondañña khẳng định thái tử sẽ từ
bỏ thế tục trở thành bậc Đại giác độ đời. Sau nầy Kondañña
trở thành đệ tử đầu tiên của Đức Phật và nhóm năm thầy
Kondañña được thọ đại giới đánh dấu sự ra đời của Tăng Bảo.
Tâm trạng
của vua cha khi được nghe những lời dự báo là quyết tâm giữ
chân người con yêu quý của mình thừa kế ngai vàng.
Với tâm
trạng nầy vua Suddhodana đã có những quyết định quan trọng
đối với Đức Bồ Tát mặc dù trong vài trường hợp vua cha cũng
cảm nhận cái gì đó rất thiêng liêng cao cả mà chính mình
cũng chấp tay kính trọng.
Bao phủ bởi
hạnh phúc thế gian là điều có thể dùng để mô tả đời sống của
Bồ Tát trong thời niên thiếu.
Một phần do
phước quá khứ, một phần do vua cha mong con mình thừa kế
ngai vàng. Sau nầy khi nói về con đường trung đạo,
Đức Phật khẳng định chính Ngài đã trãi nghiệm đầy đủ cả hai
nếp sống lợi dưỡng và khổ hạnh. Không phải chỉ thấy sự bất
cập của hai cực đoan nầy bằng suy tư mà do chính kinh nghiệm
trực tiếp.
Biểu hiện của một nội tâm phi phàm
Trãi nghiệm
quý báu về cuộc sống tịch mặc.
Năm lên bảy
tuổi Đức Bồ Tát từng ngồi một mình an tịnh dưới gốc cây đại
thụ để nhập định. Sau nầy chính kỷ niệm đó thơ ấu đã là một
gợi ý quan trọng khi Ngài kết hợp chỉ và quán trong sự dung
thông tâm giải thoát và tuệ giải thoát.
Lòng từ bi
vô hạn được ghi lại như đặc tính cố hữu của Đức Bồ Tát đối
với người, vật chung quanh.
Trong nếp
văn hoá của giai cấp chiến sĩ sát đế lỵ thì sự săn bắn như
một tiêu khiển vương giả thì Ngài có cái nhìn hoàn toàn trái
ngược.
Vô song về
thể lực, trí tuệ và nhân cách.
Đức Bồ Tát
có được một nền giáo dục ưu việt với những bậc thầy bác lãm
kinh Veda được xem là kho tàng tri thức thời đó. Ngài rất
khoẻ mạnh cường tráng. Trong một cuộc thi năm lên mười sáu
tuổi Bồ tát đã chứng tỏ khả năng vượt xa những hoàng tử ưu
tú khác về thể lực cũng như võ nghệ. Ngài đặc biệt có tư
cách rất cao sang và thánh thiện.
Tư duy về
hạnh phúc và khổ đau.
Sống trong
nhung lụa của cung đình nhưng Bồ Tát thường trầm tư về hai
mặt của cuộc sống. Ngài không đơn giản đón nhận hạnh phúc mà
tự hỏi sự vô thường có phải là chung cuộc của tất cả? Không
dễ để một người có quá nhiều lại nghĩ tới bản chất sanh diệt
Khi hạnh phúc trần gian không giữ chân được bậc xuất thế
Những hình
ảnh rất thực của của kiếp nhân sinh.
Trong một
lần ra ngoại thành ngoạn cảnh Bồ tát mục kích bốn cảnh: già,
bệnh, chết và một sa môn. Những hình ảnh đó tác động sâu sắc
tâm tư của Ngài. Nếu cuộc sống là một hành trình của sanh,
già, bệnh, chết thì có nên xem sự xây dựng cuộc sống phồn
hoa là cứu cánh?
Niềm hạnh
phúc mang tên trói buộc.
Rồi trong
ngày rằm tháng Āsāḷha Ngài quyết định rời bỏ cuộc sống vương
giả. Một người trong hoàng cung đến báo là hoàng hậu
Yasodhara vừa hạ sanh một hoàng tử. Ngài đã thốt lên câu
“Lại là sự buộc ràng (rahula)”. Không có tình
thương thì sao gọi là buộc ràng. Không có sự ra đi thì sao
gọi là vương vấn.
Sự khước từ
vĩ đại là mô tả của những sử gia nói về hình ảnh một bậc
quân vương từ bỏ ngai vàng để chọn con đường thoát tục.
Tự mình chọn lựa và quyết định. Trước mắt vẫn là con đường
vô định. Sau lưng là cuộc sống đầy ắp tình thương yêu và
tiện nghi vật chất. Ngài lên đường với sự khẳng định là tất
cả những gì mình đang có đều sẽ vô thường theo thời gian.
Hai đời sống
hoàn toàn khác biệt sau khi rời Kapilavatthu.
Ngay ngày hôm sau Đức Bồ Tát đã sống một mình không người hầu
hạ. Ngài sống bằng thực phẩm khất thực vốn rất bình thường
của các vị sa môn bấy giờ. Không có nhà cửa Ngài sống dưới
cội cây hay trong hang đá. Năm đó Ngài 29 tuổi.
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |