|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 08, tháng 08, 2022 Sinh hoạt đặc biệt Vu Lan Nhâm Dần 2022 Lời mở đầuNhạc lễ: Xưng Tán Tam Bảo Đạo từ của Hoà thượng Tuệ Siêu Pháp ngữ: Hiếu hạnh
Chúng ta được biết đức Phật là một vị đã đạt được Pháp nhãn, đã
chứng ngộ trí tuệ, nên cái nhìn của Ngài rất là khác lạ đối với hành
động con người và sự liên hệ giữa người và người. Khi thấy Singàla
(Thi-ca-la-việt) mỗi buổi sáng, dậy sớm đỉnh lễ sáu phương (Kinh
Giáo thọ Thi-ca-la-việt), (Trường Bộ IV, 188B), đúng theo lời dặn
của người cha để lại, đức Phật thây rõ sự vô ích của lễ nghi và Ngài
đã giải thích theo hướng chuyển thành hành động đúng bổn phận của
mình. Phương Đông chỉ cho cha mẹ và con cái, phương Nam chỉ cho sư
đệ, phương Tây chỉ cho vợ chồng, phương Bắc chỉ cho bạn bè, phương
Dưới chỉ cho kẻ phục vụ và phương Trên chỉ cho Sa-môn, Bà-la-môn. Và
hành động ở đây có nghĩa là bổn phận của người con đối với cha mẹ,
và cha mẹ đối với con, chỉ cho phương Đông; bổn phận thầy đối với
trò, trò đối với thầy, chỉ phương Nam v.v... “Như vậy, người con có
năm bổn phận đối với cha mẹ: “Nuôi dưỡng cha mẹ (khi cha mẹ già
yếu); làm đủ bổn phận người con đối với cha mẹ; giữ gìn gia đình với
truyền thống, bảo vệ tài sản thừa tự và làm tang lễ khi cha mẹ qua
đời". Và cha mẹ cũng có năm trách nhiệm đối với con cái: "Ngăn chặn
con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề
nghiệp; cưới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự cho
con". Đây rõ ràng là một thông điệp trách nhiệm, một trách nhiệm hỗ
tương không phải một chiều. Con có năm bổn phận đối với cha mẹ, và
cha mẹ cũng có năm bổn phận đối với con. Và khi cha mẹ và con cái
làm tròn bổn phận của mình, thời phương Đông được an lành hạnh phúc.
Nói cho rõ hơn, vận may chỉ đến với gia đình nào, khi trong gia đình
ấy cha mẹ trọn tình đối với con cái, và con cái trọn đạo đối với mẹ
cha. Trong Kinh Mangalasutta: Hạnh phúc Kinh, khi được một thiên
nhân hỏi làm sao được vận may (mangala), với hy vọng đức Phật sẽ dạy
cho một hình thức lễ nghi để cầu may cầu phước, đức Phật lại dạy cho
ba mươi tám hành động phải làm để được may mắn và một trong hành
động ấy là phải phụng dưỡng mẹ cha:
“Màtàpitu upatthànam...
Hiếu không phải là những gì nói suông bằng miệng, bằng những nghi
lễ cầu may cầu phước, Hiếu phải được cô đọng bằng những việc làm cụ
thể, và ở đây là phải hầu hạ và phụng dưỡng mẹ cha.
Hình ảnh sau đây gợi ý cho chúng ta thấy công ơn trời biển của cha
mẹ rộng như biển cả ngàn trùng, khi đức Phật tuyên bố trong Kinh
Tương Ưng tập I, trang 208 rằng, sữa mẹ nuôi con trải qua nhiêu đời
nhiêu kiếp, nhiều hơn bể cả:
“Các ngươi nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo? Cái gì là nhiều hơn? Sữa
mẹ mà các ngươi đã uống, trong khi các ngươi lưu chuyển luân hồi
trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?”
- “Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu
rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ chúng con đã uống, trong
khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, chớ không
phải nước trong bốn biển!“
- “Lành thay, lành thay này các Tỷ-kheo; lành thay này các Tỷ-kheo,
các ngươi đã hiểu như vậy, pháp do Ta dạy".
“Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là sữa mẹ các ngươi đã
uống, trong khi các ngươi lưu chuyển luân hồi trong một thời gian
dài, chớ không phải nước trong bốn biển“.
“Vì cớ sao? Vô thủy là luân hồi này, này các Tỷ-kheo! Vô thủy là
luân hồi này, này các Tỷ-kheo! Khởi điểm không thể nêu rõ, đối với
lưu chuyển luân hồi của các chúng sinh, bị vô minh che đậy, bị tham
ái trói buộc, là vừa đủ để các ngươi giải thoát, đối với tất cả các
hành".
Trong Kinh Tăng Chi tập 1, trang 74, cha mẹ được ví như những ngọn
lửa đáng cung kính, vì chính người cha người mẹ đã đem lại sự sống
cho các người con, như ngọn lửa đem lại nguồn nóng, sức sống cho
loài người.
“Thế nào là lửa đáng cung kính?”
“Ở đây, này Bà-la-môn, những người mẹ những người cha của người ấy,
này Bà-la-môn, đây gọi là lửa đáng cung kính. Vì cớ sao?”
“Từ đấy, này Bà-la-môn, khiến cho mang lại, khiến cho sanh ra (Ato
yam àhùto sambhùto). Do vậy, lửa đáng cung kính, được tôn trọng,
được cúng dường, phải đem lại chính lạc".
Sữa mẹ dùng để nuôi con được xem là nhiều hơn biển cả, cha mẹ lại
được ví như ngọn lửa đem lại nguồn sống cho con, thời công ơn của
cha mẹ đối với con, thật là vô cùng vô tận, và vì vậy, đức Phật nói
đến hai hạng người không thể trả ơn được, tức là mẹ và cha, như được
ghi trong Kinh Tăng Chi tập 1 trang, 75.
“Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, Ta nói không thể trả ơn được
(suppatikàram). Thế nào là hai? Mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng mẹ,
này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm cho
đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tẩm rửa, thoa gội, và dầu tại
đấy, họ có vãi tiểu tiện đại tiện như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng
chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này các Tỷ-kheo. Nếu
có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quà đất lớn
với bảy báu này; như vậy, này các Tỷ-kheo cũng chưa làm đủ hay trả
ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, cha mẹ đã làm
nhiều cho con cái, nuôi nấng (Ằpàdakà), nuôi dưỡng chúng lớn, giới
thiệu chúng vào đời này”.
Chính trong khi phụng dưỡng, nuôi nấng cha mẹ, chính người con lại
được hưởng những công đức tốt lành, do lòng hiếu dưỡng đem lại.
Trước hết, phụng dưỡng cha mẹ, thời được cha mẹ thương tưởng, và như
vậy gia đình ấy sẽ được lớn mạnh, không bị giảm thiểu, như đoạn kinh
sau đây nêu rõ (Tăng Chi tập 2B, trang 106) : “Ở đây, này Mahànàma,
vị thiện nam tử với những tài sản nỗ lực tinh tấn thu hoạch được, do
sức mạnh của cánh tay gom góp lại, phải trả bằng những giọt mồ hôi
đổ ra, làm ra một cách hợp pháp, cung kính, tôn trọng, đỉnh lễ, cúng
dường cha mẹ. Cha mẹ được người ấy cung kính, tôn trọng, đỉnh lễ,
cúng dường với thiện ý, khởi lên lòng thương mến người ấy: “Mong
rằng nó được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài!”. Và
này Mahànamà, với một thiện nam tử được cha mẹ thương tưởng, chờ đợi
là sự tăng trưởng không phải là sự giảm thiểu". Và này thật sự là
vậy, người con hiếu dưỡng cha mẹ được hưởng rất nhiều hạnh phúc.
Trong Kinh Tương Ưng tập 1, trang 225, Bà-la-môn Màtaposaka đến hỏi
đức Phật :
- “Thưa Tôn giả Gotama, tôi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp.
Sau khi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp, tôi nuôi dưỡng mẹ
cha. Thưa Tôn giả Gotama, tôi làm như vậy, tôi có làm đúng trách
nhiệm không?".
- “Này Bà-la-môn, người làm như vậy là có làm đúng trách nhiệm: Này
Bà-la-môn, ai tìm đồ ăn thiết thực theo thường pháp, lại nuôi dưỡng
mẹ cha, người ấy được nhiều công đức".
“Người này theo thường pháp,
Khi Bà-la-môn Manatthaddba hỏi đức Phật nên cung kính cúng dường ai
là tốt lành, đức Phật khuyên (Tương Ưng tập 1, trang 221): “Với mẹ và với cha, Với anh tuổi nhiều hơn, Với thầy là thứ tư, Không nên sinh kiêu mạn, Nên kính trọng vị ấy, Nên tôn kính vị ấy, Cúng dường chúng tốt lành."
Phụng dưỡng cha mẹ đúng Pháp, được hưởng quả tốt lành như kệ số 404
sau đây trong Kinh Suttanipàta đã nêu rõ: Với anh tuổi nhiều hơn, Với thầy là thứ tư, Không nên sinh kiêu mạn, Nên kính trọng vị ấy, Nên tôn kính vị ấy, Cúng dường chúng tốt lành."
Bước thêm một bước nữa, đức Phật trong Kinh Tăng Chi tập 1, trang
147, dùng một hình ảnh táo bạo hơn nhưng rất linh dộng và chính xác
dể tán dương các gia đình có những người con có hiếu. Những gia đình
ấy, được xem ngang bằng với Phạm Thiên, ngang bằng với các bậc Đạo
sư thời xưa, gia đình ấy đáng được cúng dường, tôn trọng. Nói một
cách rõ rệt hơn, là gia đình nào có con cháu biết hiếu dưỡng cha mẹ,
những gia đình ấy là những gia đình đáng được cung kính, đáng được
tôn trọng, đáng được chắp tay, ngang bằng với Phạm Thiên, là những
chư Thiên cao nhất ở dục giới và sắc giới, ngang bằng với các bậc
Đạo sư thời xưa, là những vị đáng được tôn trọng nhất từ xưa đến
nay.
“Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy các con cái kính lễ
(Pùjittà) mẹ cha ở nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng
với Phạm Thiên. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy các
con cái kính lễ cha mẹ ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận
như các Đạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong
ấy các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được
chấp nhận là đáng được cúng dường (Sàhuney- yakàni)".
“Phạm Thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Các Đạo sư
ngày xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Đáng được cúng
dường, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ
rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là mẹ cha đối với con cái, nuôi chúng
lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu cho chúng vào đời." Bậc Đạo sư thời trước, Xứng đáng được cúng dường, Vì thương đến con cháu. Do vậy bậc hiền trí, Đỉnh lễ và tôn trọng. Dâng đồ ăn và uống, Vải mặc và giường nằm, Thoa bóp (cả thân mình). Tắm rửa cả chân tay. Với sở hành như vậy, Đối với mẹ và cha, Đời này người hiền khen, Đời sau hưởng thiên lạc”
(Tăng Chi II A, trang 94)
Và chính Sakka (Đế Thích), vị Thiên chủ ở cõi Tam thập tam thiên
cũng nhờ công ơn phụng dưỡng cha mẹ mà sau được sinh làm Thiên-chủ
(Sakka). Như đoạn Kinh sau đây diễn tả (Tương Ưng tập 1, trang 288):
“Này các Tỳ-kheo, thuở xưa khi Thiên chủ (Sakka) còn là người, vị
này chấp trì và thực hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp trì bảy cấm
giới túc này, Sakka được địa vị Sakka”. Kính trọng bậc gia trưởng, Nói những lời nhu hòa, Từ bỏ lời hai lưỡi, Chế ngự lòng xan tham, Là con người chân thực, Nhiếp phục được phẫn nộ, Với con người như vậy, Chư Thiên Tam thập tam, Gọi là bậc chân nhân".
Khi đánh giá trị con người, đức Phật không bao giờ quên đề cập đến
hiếu thuận và Ngài đánh giá con người có hiếu rất cao.
Trong khi đó có người xem: Sát-lỵ là tối thắng; Giữa các loài bốn chân, Bò đực là tối thắng; Trong các hàng thê thiếp, Quý nữ là tối thẳng; Trong các hàng con trai, Trưởng nam là tối thắng".
Thế Tôn xác nhận rất sai khác như sau : Chính giác là tối thẳng; Giữa các loài bốn chân, Thuần thục là tối thắng; Trong các hàng thê thiếp, Nhu thuận là tối thắng; Trong các hàng con trai, Hiếu thuận là tối thắng”.
(Tương Ưng tập 1, trang 8)
Cha mẹ khi sinh con, tự nhiên muốn con phụ giúp cho mình để xây
dựng gia đình chung, và vì vậy người con cần phải hiểu bổn phận của
mình, đừng để cho cha mẹ phải thất vọng. Bài kệ sau đây, trong Kinh
Tăng Chi tập 2B, trang 69, nói lên sự mong ước ấy của cha mẹ, và
lòng biết ơn, nhớ ơn của những người con có trí: Bậc trí muốn con trai, Được giúp, giúp ta lại, Sẽ làm việc cho ta. Sẽ duy trì lâu dài, Truyền thống của gia đình. Sẽ tiếp tục gìn giữ, Gia sản được thừa hưởng. Hay đối với hương linh, Hiến dâng các vật cúng. Do thấy sự việc ấy, Bậc trí muốn con trai. Bậc hiền thiện chân nhân, Nhớ ơn biết trả ơn. Nhớ đến việc làm xưa, Chúng hiếu dưỡng cha mẹ, Chúng làm mọi công việc, Như trước làm cho chúng. Thực hiện lời giảng dạy, Được giúp hiếu dưỡng lại. Với truyền thống gia đình, Duy trì được lâu dài Đầy đủ tín và giới, Con trai được tán thán".
Khi đã nói đến nhớ ơn và trả ơn mẹ cha, chúng ta sẽ thấy đức Phật
nhấn mạnh đến và đề cao đức tính nhớ ơn và trả ơn một cách rất dặc
biệt như thế nào, trong đoạn Kinh sau đây sẽ nêu rõ (Tăng Chi tập
2B, trang 210). Các người Licchavi thưa với đức Phật có năm châu báu
khó tìm được ở đời là voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu và cư sĩ
báu, đức Phật lại nói đến năm châu báu khác khó tìm lại được ở đời,
vì là những châu báu có thể đem lại sự giải thoát đau khổ cho chúng
sinh: “Sự hiện diện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chính đẳng giác khó
tìm được ở đời. Và hạng người có thể thuyết giảng Pháp và Luật do
Như Lai tuyên bố, khó tìm được ở đời. Và người hiểu được lời thuyết
giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố, khó tìm được ở đời. Và
người đem thực hành các Pháp và tùy Pháp được hữu hiệu, được từ lời
thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố, khó tìm được ở
đời. Và người biết ơn và nhớ ơn khó tìm được ở đời".
Khi nói đến biết ơn và nhớ ơn là nói đến người biết ơn và nhớ ơn
cha mẹ.
Nhưng dầu đức Phật có khuyên các
người con nên phụng dưỡng cha mẹ, Ngài cũng đề cao cảnh giác những
người con vì muốn phục vụ cho cha mẹ mà làm các ác hạnh về thân, về
lời nói, về ý nghĩ.
Vấn đề ở đây, được đạo Phật đặt ra rất khác biệt. Phụng dưỡng cúng
dường cha mẹ là đều nên làm, nhưng vì cha mẹ làm điều ác, vì muốn
cha mẹ được sung sướng mà làm việc bất nhân, thời nhất định đạo Phật
không thể nào chấp nhận. Trong kinh Dhànanjàni, Trung Bộ Kinh tập
II, trang 188a ; Ngài Sàriputta đã khéo hỏi Dhànanjàni: “Này
Dhànanjàni, nhà ngươi nghĩ thế nào? Một người vì cha mẹ làm các điều
phi pháp, làm các điều bất chính, hay một người vì cha mẹ làm các
điều đúng pháp, làm các điều chân chính, ai tốt đẹp hơn?”.
- “Thưa Tôn giả Sàriputta, người vì cha mẹ làm các điều phi pháp,
làm các đỉều bất chính, người ấy không tốt đẹp. Và thưa Tôn giả
Sàriputta, người vì cha mẹ làm các điều đúng pháp, làm các điều chân
chính, người ấy tốt đẹp hơn”... Và ngài Sàriputta kết luận: "Này
Dhànanjàni, có những hành động khác, cá nhân, đúng pháp, với những
hành động này có thể phụng dưỡng cha mẹ, không làm các điều ác, làm
được các thiện hành. Người đã làm ác để nuôi cha dưỡng mẹ, cũng
không thể nào tránh khỏi quả báo của những hành vi bất thiện của
mình; và như vậy, không thể lấy lý do nuôi dưỡng cha mẹ để tự cứu
mình và đổ bào chữa cho những hành động bất chính của mình”.
Như đoạn Kinh tiếp sẽ nêu rõ:
“Dhànanjàni, nhà ngươi nghĩ thế nào? Ở đây, có người vì cha mẹ làm
điều phi pháp, làm các điều bất chính. Do nhân duyên làm các điêu
bất chính, các địa ngục quân kéo nó vào địa ngục. Nó có làm được gì
khi nó nói: “Tôi vì cha mẹ làm các điều phi pháp, đã làm các điều
bất chính, chớ có để các quân địa ngục kéo tôi vào địa ngục. Hay cha
mẹ có làm gì được khi nói: "Con chúng tôi đã vì cha mẹ làm các điều
phi pháp, đã làm các điều bất chính. Chớ để quân địa ngục kéo nó vào
địa ngục”. - "Thưa không được, Tôn giả Sàriputta. Các quân địa ngục
vẫn quăng nó xuống địa ngục, dầu nó có than khóc".
Không những đức Phật khuyên các người con không nên vì cha mẹ mà
làm các điều ác, vì làm như vậy chỉ đem lại tai hại cho tự thân mà
còn đem lại sự nguy hại cho mẹ cha. Đức Phật còn khuyên các người
con còn phải làm thế nào để cha mẹ từ bỏ con đường bất thiện, dấn
thân vào con đường thiện. Trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 1, trang 75,
khi đề cập đến các vị chân nhân nhớ ơn và đền ơn cha mẹ, đức Phật
dạy rằng: “Những ai đền ơn bằng cách nuôi dưỡng, cúng dường cha mẹ
với các của cải, vật chất, tiền bạc thời không bao giờ đủ để trả ơn
cha mẹ. Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin,
khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào thiện giới, đối với cha mẹ xan
tham, khuyến khích, hướng dẫn an trú vào bố thí; đối với cha mẹ theo
ác trí tuệ, khuyến khích hướng dẫn an trú vào trí tuệ. Cho đến như
vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha".
Nói cho rõ hơn, trả hiếu bằng cách cúng dường tài sản vật chất cho
cha mẹ cũng chưa đủ để trả ơn, vì của cải tài sản vật chất dầu cho
có dồi dào đi nữa, cũng phải vô thường biến hoại...
Nói một cách khác, trong trách nhiệm của một giáo chủ, đức Phật
không bao giờ quên mục đích giải thoát mọi khổ đau của con người; và
vì vậy muốn cho cha mẹ thật sự giải thoát, con cái cần phải gây dựng
lòng tin nơi cha mẹ, hướng dẫn cha mẹ bỏ các ác hạnh, làm các hạnh
lành; từ bỏ xan tham, thực hành bố thí; và nhất là từ bỏ vô minh,
chứng đạt trí tuệ. Chỉ có như vậy mới thiết thực báo đáp công ơn cho
họ.
Phân tích lời dạy trên của đức Phật, chúng ta thấy khởi điểm là xây
dựng lòng tin nơi cha mẹ nếu cha mẹ chưa có lòng tin. Lòng tin ở đây
là lòng tin Chính Pháp, và Chính Pháp không có nghĩa là lời Phật
dạy, mà Pháp còn có nghĩa là chân thật, là quyết định tính hiền
thiện. Pháp là những gì chân thật, không có hư vọng, không có giả
dối; Pháp là những gì hiền thiện tốt đẹp, không phải độc ác bất
thiện. Và xây dựng lòng tin cho cha mẹ là xây dựng tính chất chân
thực, tính chất hiền thiện nơi cha mẹ.
Lời khuyên thứ hai là một thông điệp bỏ ác làm lành. Nếu cha mẹ
theo ác giới, tức là sống một nếp sống không lành mạnh, nhiều bất
thiện, thời khuyên cha mẹ làm các thiện hạnh về thân, về lời, về ý
nghĩ, sống một đời sống trong sạch và hiền thiện. Lời khuyên thứ ba
là một lời khuyên nhân đạo, lợi tha, khuyên cha mẹ, nghĩ đến sự đau
khổ của người khác mà bố thí, làm vơi nhẹ những khổ đau chung quanh,
nghĩ đến tình nhân loại. Lời khuyên thứ tư không theo ác tuệ, là một
lời khuyên chính kiến, từ bỏ các ác tri kiến, phát triển những tri
kiến chân thật, xây dựng một cái nhìn lành mạnh và hướng thiện cho
cuộc đời.
Và chúng ta cũng không lấy làm lạ, khi tội giết cha giết mẹ được
đức Phật liệt kê vào năm tội ngũ nghịch, một tội mà phạm nhân không
bao giờ thoát khỏi địa ngục, như được trích trong Tăng Chi Bộ Kinh
tập 2b, trang 185:
“Có năm nghịch tội (Parikuppa) này, này các Tỷ-kheo, đưa đến đọa
xứ, đưa đến địa ngục, không thể chữa trị. Thế nào là năm? Đoạt mạng
của mẹ, đoạt mạng của cha, đoạt mạng của vị A-la-hán, với ác tâm làm
Như Lai chảy máu và phá hòa hợp Tăng”.
“Này các Tỷ-kheo, năm pháp ngũ nghịch này đưa đến đọa xứ, đưa đến
địa ngục, không thể chữa trị”.
Và vì vậy khi Vua Ajàtasattu đến yết kiến đức Phật và nghe pháp,
như đã được ghi chép trong Kinh Sa-môn quả, Trường Bộ Kinh. Vua đã
chịu nhận tội giết cha của mình và ăn năn hối tiếc:
- “Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội vì ngu si, vì vô minh,
vì bất thiện; con đã hại mạng phụ vương con, một vị vua chân chính
để đoạt vương quyền. Mong Thế Tôn nhận cho con tội ấy là một tội để
con ngăn đón về tương lai”.
Và đức Phật chấp nhận tội ấy cho vua:
“Này đại vương, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì
bất thiện, đại vương đã hại mạng phụ vương, một vị vua chân chính,
để đoạt vương quyền. Vì đại vương đã thấy tội ấy là một tội, đã thú
tội đúng với Chính pháp, Ta nhận tội ấy cho đại vương. Đó là một sự
tiến bộ. Thưa đại vương, trong luật pháp của bậc Thánh: Những ai
thấy tội là tội, thú tội đúng với Chính pháp và ngăn đón ở tương
lai".
“Và khi vua Ajàtasattu từ biệt và ra đi, đức Phật đưa ra nhận xét
như sau: "Này các Tỷ-kheo, tâm của vị vua ấy rất ăn năn. Này các
Tỷ-kheo, tâm cùa vị vua ấy rất hối quá. Nếu vị vua rất chân chính,
thì ngay trong chỗ ngồi này, vua ấy đã chứng được pháp nhãn, không
trần cấu, không ô uế."
Trong những đoạn Kinh trên, chúng ta đã được thấy rõ ngang qua lời
dạy của đức Phật, công ơn trời biển của cha mẹ như thế nào, bổn phận
đền ơn và trả ơn của con cái phải như thế nào, và như vậy đức Phật
không bao giờ quên khuyên dạy các đệ tử biết lòng nhớ ơn và trả ơn
cha mẹ. Tuy vậy, Ngài hiểu được tâm tính của chúng sinh một cách sâu
sắc và xác thực, và vì vậy, chắc Ngài cũng phải buồn lòng khi đưa ra
nhận xét rằng: Số chúng sinh không có hiếu với cha mẹ nhiều hơn là
chúng sinh có hiếu với cha mẹ, như đã dược ghi trong Tương Ưng Bộ
Kinh tập 5B, trang 255 bản Ronéo.
“Rồi Thế Tôn lấy một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ-kheo:
"Các ngươi nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo? Cái nào là nhiều hơn, một
ít đất Ta lấy trên đầu móng tay, hay là quả đất lớn này?"
- "Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn này; còn
ít hơn là một ít đất, Thế Tôn lấy trên đâu móng tay. Chúng con không
thể ước tính được, so sánh được có thể thành một phần nhỏ được, nếu
đem so sánh quả đất lớn, với một ít đất Thế Tôn lấy trên đầu móng
tay".
- “Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là chúng sinh có hiếu kính với
mẹ. Và nhiều hơn là chúng sinh không hiếu kính với mẹ... Cũng vậy,
ít hơn là chúng sinh có hiếu kính với cha. Và nhiều hơn là chúng
sinh không hiếu kính với cha..."
(Bản dịch cùa HT Thích Minh Châu)
Tụng Niệm Ân Phụ Mẫu
Xưng Tán Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa Bậc Chánh Biến Tri đáng cúng dường Con nguyện thân tâm thường thanh tịnh Làm lành lánh dữ lợi quần sanh
Tam Quy Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi Dutiyampi buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi Dutiyampi dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi Dutiyampi saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi Tatiyampi buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi Tatiyampi dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi Tatiyampi saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi
Ðệ tử quy y
Phật, đấng Thiên Nhơn Ðiều Ngự, bi trí vẹn toàn
Kệ Niệm Ân Phụ Mẫu Dẫu muôn thân vạn thuở khôn đền Từ ấu thơ lầm lỗi gây nên Nay khôn lớn chưa tròn hiếu tử Ân nghĩa nặng thịt xương huyết nhũ Công sâu dày chín tháng cưu mang Dưỡng bào nhi ăn uống kiêng khem Lúc đi đứng nằm ngồi giữ ý Nỗi thống khổ làm sao kể xiết Tự chống chèo vượt cạn qua sông Trào lệ vui tiếng khóc bên lòng Yêu con trẻ nâng như trứng mỏng Lạy cha mẹ nghĩa sâu vô tận Suối cam lồ tắm mát đời con Lắm âu lo bất trắc không sờn Bao dơ uế nhọc nhằn cam chịu Nuốt mặn đắng chua cay tủi hận Ôi suốt đời vất vả lo toan Mới cảm đau ương yếu se mình Ðã hớt hải cầu Trời khấn Phật Tình mẹ cha thấm dòng sữa mật Nuôi đời con đến lúc nên người Buổi khó khăn khô nhạt cầm hơi Miếng ngon ngọt dành phần con trẻ Năm canh đêm thức chừng con ngủ Sáu khắc ngày tần tảo ngược xuôi Ðủ áo cơm nở mặt với đời Cho ăn học đua đòi sĩ diện Lạy cha mẹ ơn thiêng hiển hiện Suối bi từ vô lượng nhân gian Nhiều khi con hư hỏng hoang đàng Lắm lúc lại hỗn hào tai ngược Quay mặt đi dao bào cắt ruột Ðánh con đau lòng lại thêm đau Ôi thâm ân giáo dưỡng sâu mầu Ðèn sách sáng lòng con chưa đủ sáng Nay nhờ Phật tâm minh trí rạng Ðuốc thiên lương hiếu đạo soi đường Mẹ cha là sen báu ngát hương Là thanh nhạc chim trời Ðao lợi Là bảy báu phúc lành cao vợi Là trăng sao sáng đẹp tuyệt vời Là suối tình muôn thuở về xuôi Là biển rộng thái sơn cao ngất Mong báo đáp ân tày trời đất Nguyện cúc cung hết dạ sớm hôm Khi ốm đau tận tụy thuốc thầy Lúc hữu sự ân cần công của Giữ hòa khí cháu con thuận thảo Gìn gia phong hợp đạo nghĩa nhân Giúp mẹ cha bố thí cúng dường Tu tín giới tham thiền niệm Phật Lạy cha mẹ bậc thầy trước nhất Là tiên nhân từ ái trong nhà Con nghiêm cung phủ phục thiết tha Mọi lầm lỡ thành tâm sám hối Từ tấm bé muôn lầm vạn lỗi Ðến khi con khôn lớn nên người Chuyện nghĩa ân thù tạc với đời Việc hiếu đạo chừng như bổn phận Có ai sống không niềm ân hận Ai chưa thương biết quí tình thương Ðời phù du muôn vạn nẻo đường Con dong ruổi thung huyên luống tuổi Nhờ Phật dạy biết điều lầm lỗi Ðã tri ân xin nguyện báo ân Dẫu cho con làm được muôn phần Chưa đáp đủ ân cha nghĩa mẹ Xin minh chứng tấc lòng con trẻ Sống chánh chơn y pháp phụng hành Con hôm nay hội đủ duyên phần Hiếu và đạo tinh cần tu tập Vầng nhật nguyệt tam thiên toả khắp Vẹt vô minh hôn ám bao đời Cầu cho sanh loại muôn nơi Thọ trì hiếu hạnh rạng ngời nhân luân
Pháp ngữ
Hồi Hướng Vong Linh Duyên khởi Nằm mộng thấy thân nhân Bị khổ quả đói lạnh Ðến bạch hỏi Thế Tôn Ðức Ðiều Ngự bi mẫn Chỉ dạy cách tạo phước Hồi hướng các vong linh Thoát ly mọi khổ ách
Chánh kinh
Các thân nhân
quá vãng
Đạo từ: Niềm tin có đời sau, có loài hoá sanh, hành vi thiện ác có
quả báo
Tụng kinh cầu siêu
1.
DHAMMASAṄGINĪ [MĀTIKĀ]
Vipākadhammadhammā
Sukhasahagatā
dhammā
2.
VIBHAṄGA [ATTHAKATHĀ] Khandhavibhaṅgo Āyatanavibhaṅgo Dhātuvibhaṅgo Saccavibhaṅgo Indriyavibhaṅgo Paccayākāravibhaṅgo Satipaṭṭhānavibhaṅgo Sammappadhānavibhaṅgo Iddhipādavibhaṅgo Bojjhaṅgavibhaṅgo Maggavibhaṅgo Jhānavibhaṅgo Appamaññāvibhaṅgo Sikkhāpadavibhaṅgo Paṭisambhidāvibhaṅgo Ñāṇavibhaṅgo Khuddakavatthuvibhaṅgo. Dhammahadayavibhaṅgo'ti Aṭṭhārasavidhena vibhattaṃ. Vibhaṅgappakaranaṃ nāma samattaṃ.
3.
DHĀTUKATHĀ [ATTHAKATHĀ]
Tadanantaraṃ dhātukathāpakaraṇaṃ nām’ etaṃ.
Saṅgaho asaṅgaho saṅgahitena asaṅgahitaṃ asaṅgahitena saṅgahitaṃ
saṅgahitena saṅgahitaṃ asaṅgahitena asaṅgahitaṃ sampayogo vippayogo
sampayuttena vippayuttaṃ vippayuttena vippayuttaṃ saṅgahitena
sampayuttaṃ vippayuttaṃ sampayuttena saṅgahitaṃ asaṅgahitaṃ
asaṅgahitena sampayuttaṃ vippayuttaṃ -
vippayuttena saṅgahitaṃ asaṅgahitan’ ti
Cuddasavidhena vibhattaṃ dhātukathāpakaranaṃ nāma samattaṃ.
4.
PUGGALAPAÑÑATTI [ATTHAKATHĀ] Khandhappaññatti Āyatanappaññatti Dhātuppaññatti Saccappaññatti Indriyappaññatti Puggalappaññattī'ti Chavidhena vibhattaṃ. Puggalappaññattippakaranaṃ nāma samattaṃ.
5.
KATHĀVATTHU (ATTHAKATHĀ) Sakavādipañcasuttasatāni Parivādipañcasuttasatānī’ ti Suttasahassaṃ Samodhānetvāna vibhattaṃ kathāvatthuppakaraṇaṃ nāma samattaṃ.
6.
YAMAKA (ATTHAKATHĀ) Mūlayamakaṃ Khandhayamakaṃ Āyatanayamakaṃ Dhātuyamakaṃ Saccayamakaṃ Saṅkhārayamakaṃ Anusayayamakaṃ Cittayamakaṃ Dhammayamakaṃ Indriyayamakan’ ti Dasavidhena vibhattaṃ yamakappakaraṇaṃ nāma samataṃ.
7.
PAṬṬHĀNA [ATTHAKATHĀ]
Tadanantaraṃ
mahāpaṭṭhānappakaraṇaṃ nām'etaṃ.
Pháp ngữ: Tâm Bi Mẫn và Người Con Phật Hy sinh như từ mẫu Suốt đời lo che chở Ðứa con một của mình Hãy phát tâm vô lượng Ðến tất cả sanh linh Từ bi gieo cùng khắp Cả thế gian khổ hải Trên dưới và quanh mình Không hẹp hòi oan trái Không hờn giận căm thù Đạo từ: Cảm nhận đau khổ để thoát khổ
Tụng kinh Đáo Bỉ Ngạn
Kinh Ðáo Bỉ Ngạn
Dasapāramī
Itipi so bhagavā dānaparāmī sampanno
Ðường tu bố thí đứng đầu
Itipi so bhagavā sīlapāramī sampanno
Thiện nhân giới hạnh nghiêm trì
Itipi so bhagavā nekkhammapāramī sampanno
Xuất gia vốn hạnh ly trần
Itipi so bhagavā paññāpāramī sampanno
Ðèn tâm trí tuệ sáng ngời
Itipi so bhagavā viriyapāramī sampanno
Chính do nghị lực tinh cần
Itipi so bhagavā khantīpāramī sampanno
Ðức tu nhẫn nại vạn năng
Itipi so bhagavā saccapāramī sampanno.
Thiện hiền chân thật không ngoa
Itipi so bhagavā adhiṭṭhānapāramī sampanno
Bởi do chí nguyện dẫn đường
Itipi so bhagavā mettāpāramī sampanno
Hạnh lành từ ái bao la
Itipi so bhagavā upekkhāpāramī sampanno
An nhiên hành xả giữa đời
Itipi so bhagavā dasapāramī sampanno
Từ trong bể khổ cuộc đời
Hồi hưóng – hoàn mãn
|