|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 09 tháng 08, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VIII. TƯƠNG ƯNG TRƯỞNG LÃO VAṄGĪSA (S. i, 185).
Bài
1. Kinh Nikkhanta (Nikkhantasuttaṃ)
-TÂM MA, TÂM PHẬT ĐỀU LÀ TỰ TÂM.
Cuộc sống luôn là giao thoa giữa tâm và cảnh. Ở đó mang cả
hai yếu tố chi phối chủ quan và khách quan. Tác động của
cành vốn là điều không tránh khỏi. Để nắm được thế chủ động
cần khẳng định địa bàn phản công là nội tâm. Ở đó có cả hai
tâm ma và tâm phật. Người khôn ngoan không đổ lỗi cho ngoại
cảnh để thúc thủ quy hàng mà tự mình phát huy nội lực. Có
lúc hành giả đối diện với Ác ma là đối diện với chính mình.
Biết vững trú trong Pháp như võ sĩ biết dùng trung bình tấn.
Niềm tin ở Phật như mặt trời tỏ rạng xua tan bóng tối của Ma
chướng. Tâm Phật (minh sát) và tâm ma đều ở nội tại. Vấn đề
ở đâu thì giải pháp ở đó.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ āyasmā vaṅgīso āḷaviyaṃ
viharati aggāḷave cetiye āyasmatā nigrodhakappena
upajjhāyena saddhiṃ. Tena kho pana samayena āyasmā vaṅgīso
navako hoti acirapabbajito ohiyyako vihārapālo.
Tôi được nghe như vầy,
Thuở ấy Tôn giả Vaṅgīsa trú tại
ngôi đền Aggāḷava, ở Āḷavī cùng với thầy truyền giới là Tôn
giả Nigrodha Kappa. Lúc ấy Tôn giả Vaṅgīsa vừa mới xuất gia
một mình ở lại trông chừng tịnh xá.
Atha kho sambahulā itthiyo samalaṅkaritvā yena aggāḷavako
ārāmo tenupasaṅkamiṃsu vihārapekkhikāyo.
Atha kho āyasmato vaṅgīsassa tā itthiyo disvā
anabhirati uppajjati, rāgo cittaṃ anuddhaṃseti. Atha kho
āyasmato vaṅgīsassa etadahosi – ‘‘alābhā vata me, na vata me
lābhā; dulladdhaṃ vata me, na vata me suladdhaṃ; yassa me
anabhirati uppannā, rāgo cittaṃ anuddhaṃseti, taṃ kutettha
labbhā, yaṃ me paro anabhiratiṃ vinodetvā abhiratiṃ
uppādeyya. Yaṃnūnāhaṃ attanāva attano anabhiratiṃ vinodetvā
abhiratiṃ uppādeyya’’nti.
Có một số phụ nữ ăn diện đẹp đẽ đến vườn Aggāḷava viếng
chùa. Tôn giả thấy những vị nầy lòng dục sanh khởi khiến tâm
tư khó chịu. Rồi Tôn giả tự nghĩ: Thật là bất lợi cho ta,
thật là mất mát cho ta, thật là điều không may cho ta khi
lòng dục sanh khởi nơi ta, khi sự khó chịu sanh khởi nơi ta.
Ai có thể dập tắt sự khó chịu và khiến mình tịnh lạc?
Ta hãy tự mình dập tắt sự khó
chịu và khiến mình tịnh lạc.
Atha kho āyasmā vaṅgīso attanāva attano anabhiratiṃ
vinodetvā abhiratiṃ uppādetvā tāyaṃ velāyaṃ imā gāthāyo
abhāsi – Vitakkā upadhāvanti, pagabbhā kaṇhato ime. ‘‘Uggaputtā mahissāsā, sikkhitā daḷhadhammino; Samantā parikireyyuṃ, sahassaṃ apalāyinaṃ. ‘‘Sacepi etato bhiyyo, āgamissanti itthiyo; Neva maṃ byādhayissanti dhamme samhi patiṭṭhitaṃ. ‘‘Sakkhī hi me sutaṃ etaṃ, buddhassādiccabandhuno; Nibbānagamanaṃ maggaṃ, tattha me nirato mano. ‘‘Evañce maṃ viharantaṃ, pāpima upagacchasi; Tathā maccu karissāmi, na me maggampi dakkhasī’’ti.
Tôn giả Vaṅgīsa sau khi tự mình dập tắt sự khó chịu và khiến
mình tịnh lạc đã nói lên kệ ngôn nầy:
Ô hay, mình đi
tu
Ngàn chiến binh
thiện xạ
Nếu nữ nhân đến
đây
Ta chính mình
được nghe
Ta an trú như
vậy
agārasmānagāriyaṃ = Vitakkā upadhāvanti = pagabbhā kaṇhato ime = ‘‘Uggaputtā mahissāsā = sikkhitā daḷhadhammino = Samantā parikireyyuṃ = sahassaṃ apalāyinaṃ = ‘‘Sacepi etato bhiyyo = āgamissanti itthiyo = Neva maṃ byādhayissanti = dhamme samhi patiṭṭhitaṃ = ‘‘Sakkhī hi me sutaṃ etaṃ = Buddhassādiccabandhuno = Nibbānagamanaṃ maggaṃ = tattha me nirato mano = ‘‘Evañce maṃ viharantaṃ = pāpima upagacchasi = Tathā maccu karissāmi = na me maggampi dakkhasī’’ti =
Tôn giả
Vaṅgīsa
nguyên là
một bà la môn tinh thông Phệ Đà. Vị nầy nổi tiếng với khả
năng biết được cảnh giới siêu đoạ của một người chết bằng
cách búng tay vào xương sọ. Một lần bà la môn Vaṅgīsa đến
gặp Đức Phật mặc dù có nhiều khuyên ngăn từ những người bạn.
Đức Phật đã đưa cho ông xương sọ của một vị A la hán. Ông cố
gắng nhưng không thể biết cảnh giới tái sanh của người đã
mất. Điều nầy khiến Ông muốn xuất gia để tìm ra bí mật về
những đệ tử Phật. Sau nầy khi tu tập án xứ thể trược của
thân vị nầy chứng quả A la hán. Tôn giả Vaṅgīsa được Đức
Phật xác chứng là bậc đệ tử đứng đầu về khả năng “xuất khẩu
thành thi” (patibhānavantānam).
Chữ Kaṇhato - thần bóng tối,
Thần Hắc Ám - một tên gọi khác của Ác Ma.
Uggaputta – là những thanh niên cường tráng được biết với sự
tinh nhuệ khi giao tranh. Theo Sớ giải những người gọi là
ugga là những đứa con lai của hai giai cấp sát đế lỵ và thủ
đà. Khi những người đàn ông giai cấp Sát đế lỵ ăn nằm với
phụ nữ giai cấp cùng đinh (thủ đà) sanh ra con trai thì
những đứa con trai thường làm trong ngày chấp pháp hay quân
đội. Họ thường được
biết là đảm lược và thiện chiến.
Cụm từ buddhassādiccabandhuno - Đức Phật dòng dõi Mặt Trời
(Đại Nhật) là cụm từ xưng tán Phật vì không ngôn ngữ Ấn Độ
mặt trời là biểu tượng của quang minh, của thiêng liêng
trong Đạo Thờ Thần Lửa (Minh Giáo, Bái Hoả Giáo). Ở đây là
một cách nói bóng bẩy: Ác ma là Thần Bóng Tối (Kaṇhato) đối
lập với Phật là mặt nhật quang minh.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |