|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 10 tháng 08, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VIII. TƯƠNG ƯNG TRƯỞNG LÃO VAṄGĪSA (S. i, 186).
Bài
2. Kinh Không An Lạc (Aratisuttaṃ)
-TỪ CÁI TẦM THƯỜNG NGHIỆM CÁI PHI THƯỜNG.
Trong đời sống tu tập có những hiện tượng rất tầm thường lại
tạo nên những giao động đáng quan ngại. Ở đây một tỳ khưu
mới tu sống với thầy truyền giới vì ít trò chuyện sanh tâm
buồn nản sự tu tập rồi khởi dục niệm thế tục. Cũng may là vị
nầy có học, có tu nên vận dụng được sự suy niệm đối với cảnh
giới giác ngộ giải thoát nhờ vậy khiến tâm trở lại sự vững
vàng. Kinh
nghiệm thực tế cho thấy sự không an lạc trong cuộc sống là
nguyên nhân tác động nhiều tạp niệm dẫn đến sự trôi dạt mất
phương hướng trong cuộc tu. Chính vì điểm nầy, đối với người
tu, sự thiếu an lạc trong cuộc sống cần được nhận diện với
thái độ nghiêm túc. Tương tự như sự nhạt nhẽo trong đời sống
gia đình có thể đưa đến gẫy đổ cả cuộc hôn nhân vốn dầy công
tạo dựng.
Ekaṃ samayaṃ...pe... āyasmā vaṅgīso āḷaviyaṃ viharati
aggāḷave cetiye āyasmatā nigrodhakappena upajjhāyena
saddhiṃ. Tena kho pana samayena āyasmā nigrodhakappo
pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkanto vihāraṃ pavisati, sāyaṃ vā
nikkhamati aparajju vā kāle. Tena kho pana samayena āyasmato
vaṅgīsassa anabhirati uppannā hoti, rāgo cittaṃ
anuddhaṃseti.
Thuở ấy Tôn giả Vaṅgīsa trú tại ngôi đền Aggāḷava, ở Āḷavī
cùng với thầy truyền giới là Tôn giả Nigrodha Kappa. Bấy giờ
Tôn giả Nigrodha Kappa sau khi trì bình và thọ thực thường ở
trong tịnh thất đến chiều hay hôm sau mới ra ngoài.
Riêng Tôn giả Vaṅgīsa tâm sanh buồn nãn và bị dục niệm chi
phối.
Atha kho āyasmato vaṅgīsassa etadahosi – ‘‘alābhā vata me,
na vata me lābhā; dulladdhaṃ vata me, na vata me suladdhaṃ;
yassa me anabhirati uppannā, rāgo cittaṃ anuddhaṃseti; taṃ
kutettha labbhā, yaṃ me paro anabhiratiṃ vinodetvā abhiratiṃ
uppādeyya. Yaṃnūnāhaṃ attanāva attano anabhiratiṃ vinodetvā
abhiratiṃ uppādeyya’’nti.
Rồi Tôn giả tự nghĩ: Thật là bất lợi cho ta, thật là mất mát
cho ta, thật là điều không may cho ta khi lòng dục sanh khởi
nơi ta, khi sự khó chịu sanh khởi nơi ta.
Ai có thể dập tắt sự khó chịu và khiến mình tịnh lạc?
Ta hãy tự mình dập tắt sự khó chịu và khiến mình tịnh
lạc.
Atha kho āyasmā vaṅgīso attanāva attano anabhiratiṃ
vinodetvā abhiratiṃ uppādetvā tāyaṃ velāyaṃ imā gāthāyo
abhāsi – Vanathaṃ na kareyya kuhiñci, nibbanatho arato sa hi bhikkhu. ‘‘Yamidha pathaviñca vehāsaṃ, rūpagatañca jagatogadhaṃ; Kiñci parijīyati sabbamaniccaṃ, evaṃ samecca caranti mutattā. ‘‘Upadhīsu janā gadhitāse, diṭṭhasute paṭighe ca mute ca; Ettha vinodaya chandamanejo, yo ettha na limpati taṃ munimāhu. ‘‘Atha saṭṭhinissitā savitakkā, puthū janatāya adhammā niviṭṭhā; Na ca vaggagatassa kuhiñci, no pana duṭṭhullabhāṇī sa bhikkhu. ‘‘Dabbo cirarattasamāhito, akuhako nipako apihālu; Santaṃ padaṃ ajjhagamā muni paṭicca, parinibbuto kaṅkhati kāla’’nti. Tôn giả Vaṅgīsa sau khi tự mình dập tắt sự khó chịu và khiến mình tịnh lạc đã nói lên kệ ngôn nầy:
Bỏ tâm thích,
không thích
Thật đúng là tỳ
khưu
Hiền thánh ngộ
điều nấy
Là Mâu Ni vô
trước
Tỳ khưu không
môn phái
Không vọng động
tham cầu
sabbaso gehasitañca vitakkaṃ = Vanathaṃ na kareyya kuhiñci = nibbanatho arato sa hi bhikkhu = ‘‘Yamidha pathaviñca vehāsaṃ = rūpagatañca jagatogadhaṃ = Kiñci parijīyati sabbamaniccaṃ = evaṃ samecca caranti mutattā = ‘‘Upadhīsu janā gadhitāse = diṭṭhasute paṭighe ca mute ca = Ettha vinodaya chandamanejo = yo ettha na limpati taṃ munimāhu = ‘‘Atha saṭṭhinissitā savitakkā = puthū janatāya adhammā niviṭṭhā = Na ca vaggagatassa kuhiñci = no pana duṭṭhullabhāṇī sa bhikkhu = ‘‘Dabbo cirarattasamāhito = akuhako nipako apihālu = Santaṃ padaṃ ajjhagamā muni paṭicca = parinibbuto kaṅkhati kāla’’nti =
Cụm từ "aratiñ ca
ratiñ ca" - buồn nãn và ưa thích ở đây theo Sớ giải chỉ cho
tâm thái của hành giả có lúc không thấy an lạc trong sự tu
tập từ đó khởi sanh dục niệm nhất là những ham muốn thế tục
liên quan tới dục lạc,
Trong bài kệ thứ hai theo sự giải thích của Sớ Giải cùa bài
kinh thì ý nghĩa tương đối hẹp
(như nói về cảnh giới của long chủng…) trong lúc bản
Sớ Giải của Trưởng Lão Tăng Kệ (Th-a III 190,4-5) mang ý
nghĩa phổ quát hơn đó là tất cả hiện tượng trong tam giới
đều vô thường hoại diệt s (parijīyati sabba aniccaṃ)”.
Đây là sự quán chiếu rộng lớn (mahāvipassanā) của
tôn giả.
Chữ upadhi thường được dịch là sanh y trong Hán tạng chỉ cho
sở cầu, sở y dựa trên tập tính và chủng loại thí dụ có những
con vật thích sống trong hang hay có những sinh loại thích
ăn diện đẹp đẽ. Upadhi trở thành một thứ quán tính đưa đẩy
chúng sanh luân hồi sanh tử.
Theo Sớ giải thì patig̣ha trong câu "diṭṭhasute paṭighe ca
mute ca" chỉ cho mùi và vị trong lúc chữ muta chỉ cho cảnh
xúc. Như vậy trọn câu bao gồm sắc, thinh, hương, vị, xúc.
(Cũng bài kệ tương tự được chú thích trong Trưởng Lão Tăng
Kệ thì bao gồm cả sáu cảnh (…))
Bài kệ thứ tư trong kinh nầy là thách thức đối với các nhà
biên soạn Sớ giải. Con số sáu mươi khó giải thích ổn thoả.
Sớ giải bài kinh nầy nói con số dựa trên kiến chấp sai lạc
đối với sáu cảnh ở các hạng chúng sanh (atha cha ārammanạ
nissitā puthū adhammavitakkā janatāya nivittḥā) nhưng
dựa trên ngữ cảnh thì bản Sớ giả của Trưởng Lão Tăng Kệ có
phần hợp lý hơn khi nói con số sattḥisita là một hư từ có
nghĩa là “hơn sáu mươi” chỉ cho 62 tà kiến như ghi trong
Kinh Phạm Võng - Trường Bộ.
Bản Sớ Giải bài kinh nầy cũng có điểm giải thích khác biệt
với những Sớ giải khác về cụm từ
Na ca vaggagatassa khi nói rằng có nghĩa là “kết bè
với phiền não – kilesavagga trong lúc những bản Sớ giải khác
mang ý nghĩa là “không nặng tinh thần tông phái” như câu
“giữa những người nặng phe phái bậc trí không phe phái -
vaggagatesu na vaggasāri dhīro.
Điều nầy hàm nghĩa một người tu tập đúng nghĩa nhận
thức các pháp từ tuệ quán chứ không phải qua lăng kính đạo
nầy hay tông phái kia. Câu "no pana duttḥ ̣ullabhānī sa
bhikkhu" được
hiểu là một tỳ khưu đúng nghĩa không nói lời miệt thị vì đầu
óc tông phái
(duttḥullagāhī).
Bài kệ sau cùng nói về một bậc vô sanh ứng cúng đã viên mãn
giác ngộ đoạn tận phiền não chỉ chờ thời điểm thích hợp
chứng vô dư niết bàn(nibbāna patic̣ ca kilesaparinibbānena
parinibbuto parinibbānakālaṃ[anupādisesanibbānakālaṃ]
āgameti). Đây cần được hiểu là sự lựa chọn không nằm trong
“thích hay không thích"
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |