|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 16 tháng 08, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VIII. TƯƠNG ƯNG TRƯỞNG LÃO VAṄGĪSA (S. i, 188).
Bài
4. Kinh Với Tôn Giả Ānanda (Ānandasuttaṃ)
-DẬP TẮT LỬA DỤC VỌNG.
Khi hưởng thụ dục lạc khó thấy sự nhiệt não của lòng dục.
Khởi tâm ham muốn mà phải tự chế thì mới thấy sự thiêu đốt
của dục vọng. Dập tắt ngọn lửa nầy cần đến công phu tu tập
chứ không phải chỉ lý thuyết đơn thuần. Định, niệm, và tuệ
đều hữu ích để ứng phó dục vọng với sự tùy quán vô thường,
khổ não, vô ngã, bất tịnh. Bài kinh nầy cũng cho thấy đối
với sự hạm muốn dục lạc, hay nhục dục nói riêng, thì thân
quán niệm xứ rất đắc dụng. Nói chi tiết hơn là quán bất tịnh
đối với thân.
Ekaṃ samayaṃ āyasmā ānando sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho āyasmā ānando
pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṃ
piṇḍāya pāvisi āyasmatā vaṅgīsena pacchāsamaṇena. Tena kho
pana samayena āyasmato vaṅgīsassa anabhirati uppannā hoti,
rāgo cittaṃ anuddhaṃseti.
Thuở ấy tôn giả Ānanda trú ở Sāvatthi, tại Jetavana – ngôi
già lam do ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc) (dâng cúng).
Một sáng, tôn giả Ānanda đắp y, cầm bát và y kép vào thành
Sāvatthi khất thực với tôn giả Vaṅgīsa đồng hành.
Bấy giờ Tôn giả Vaṅgīsa khởi sanh dục niệm khiến tâm khó
chịu. ‘‘Kāmarāgena ḍayhāmi, cittaṃ me pariḍayhati; Sādhu nibbāpanaṃ brūhi, anukampāya gotamā’’ti.
Rồi Tôn giả Vaṅgīsa nói với Tôn giả Ānanda bằng kệ ngôn: Tâm con bị thiêu đốt Đệ tử Đức Cồ Đàm Bi mẫn dạy pháp tu (Tôn giả Ānanda): ‘‘Saññāya vipariyesā, cittaṃ te pariḍayhati; Nimittaṃ parivajjehi, subhaṃ rāgūpasaṃhitaṃ. ‘‘Saṅkhāre parato passa, dukkhato mā ca attato; Nibbāpehi mahārāgaṃ, mā ḍayhittho punappunaṃ. ‘‘Asubhāya cittaṃ bhāvehi, ekaggaṃ susamāhitaṃ; Sati kāyagatā tyatthu, nibbidābahulo bha. ‘‘Animittañca bhāvehi, mānānusayamujjaha; Tato mānābhisamayā, upasanto carissasī’’ti.
Chính do bởi vọng tưởng
Nhìn hữu vi khách thể
Rèn tâm quán bất tịnh
Trụ tâm ở vô tướng
‘‘Kāmarāgena ḍayhāmi =
Theo Sớ Giải thì sự kiện trong bài kinh nầy xẩy ra khi Tôn
Giả Ānanda, do lời thỉnh cầu,
vào hoàng cung để dạy Phật pháp cho các cung phi. Tôn giả
Ānanda dẫn theo tân tỳ khưu Vaṅgīsa cùng đi theo luật định.
Tỳ khưu Vaṅgīsa nhìn thấy những phi tần nhan sắc mỹ miều
trong xiêm y đẹp đẽ nên bị lòng dục chi phối.
Hai câu Sādhu nibbāpanaṃ brūhi, anukampāya gotamā’’ti (lành
thay Đệ tử Đức Gotama vì bi mẫn dạy pháp tịch tịnh) được
hiểu hai cách: dạy pháp dập tắt lửa dục và dạy cách chứng
ngộ niết bàn.
5 bài kệ Tôn giả Ānanda nói lên ở đây là một kết nối của một
số Phật ngôn mà Đức Thế Tôn dạy cho tôn giả Rahula và một kệ
ngôn của Tôn giả Mahāmoggallāna (Mục Kiền Liên). Những kệ
ngôn nầy được tìm thấy nhiều nơi trong Kinh Tạng.
Cụm từ
Saññāya vipariyesā
- vọng tưởng hay điên đảo vọng tưởng - chỉ cho bốn chấp thủ:
vô thường cho là thường, khổ não cho là hạnh phúc, vô ngã
cho là ngã sở, bất tịnh cho là hảo tướng.
Theo Sớ giải, cụm tử “Saṅkhāre parato passa” thấy pháp hữu
vi là khách thể là quán chiếu vô thường. Chỉ có cái nhìn
khách quan mới thấy rõ sanh diệt. Do mê chấp “đây là ta, là
của ta, là tự ngã của ta” nên mê lầm không thấy được sự tập
khởi và hoại diệt.
Vô tướng – animitta, theo Sớ Giải, là cách quán chiếu theo
minh sát (vipassana) hàm nghĩa là không lấy một hiện tượng
mà cho là toàn bộ thực thể. Sự thật là tất cả hiện hữu đều
là một dòng chảy kết nối những trạng thái sanh diệt nối
tiếp. Thí dụ hoa hồng không phải chỉ là hình ảnh hoa lúc mãn
khai mà là một tiến trình từ lúc kết nụ đến phai tàn. Hình
ảnh đẹp nhất chỉ là một thời điểm đến rồi đi trong tiến
trình đó chứ không phải là tất cả.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |