|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 20 tháng 08, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VIII. TƯƠNG ƯNG TRƯỞNG LÃO VAṄGĪSA (S. i, 189).
Bài
6. Kinh Với Trưởng Lão Sāriputta (Sāriputtasuttaṃ)
-CẢM KÍCH PHÁP THIỆN THUYẾT.
Mặc dù giá trị
chân thực của chánh pháp là nghĩa lý cao thâm nhưng để người
nghe có thể thấm nhuần thì thường khi cần đến cách trình bày
khúc chiết, mạch lạc, và với ngôn phong dễ đi vào tâm tư.
Tôn giả .Sāriputta không những chỉ là bậc tưóng quân chánh
pháp trong hàng đệ tử Phật mà Ngài còn được biết là bậc
khiêm cung, hoà ái từ hành động tới ngôn ngữ. Do vậy rất
nhiều trường hợp Bậc Đạo Sư uỷ thác cho
Tôn giả .Sāriputta
thay Ngài để huấn thị cho chúng tăng. Những pháp thoại của
Ngài cho thấy một lý lẽ mà đông tây, kim cổ đều chấp nhận:
cách nói quan trọng như điều được nói. Những kệ ngôn tán
thán của Tôn giả Vaṅgīsa ghi lại một hình ảnh tuyệt đẹp thời
bình minh của Chánh Pháp.
Ekaṃ samayaṃ āyasmā sāriputto
sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Một thuở Tôn giả Sāriputta trú ở Jetavana, ngôi già lam do
ông Anāthapiṇḍika dâng cúng, tại Sāvatthi, .
Tena kho pana samayena āyasmā sāriputto bhikkhū dhammiyā
kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṃseti
poriyā vācāya vissaṭṭhāya anelagalāya [aneḷagalāya (sī.
ka.), anelagaḷāya (syā. kaṃ. pī.)] atthassa viññāpaniyā. Te
ca bhikkhū aṭṭhiṃ katvā manasi katvā sabbacetasā
samannāharitvā ohitasotā dhammaṃ suṇanti.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta
thuyết pháp với lời giảng từ hoà, trong sáng, rõ ràng khiến
chư tỳ khưu lắng nghe trong niềm hoan hỷ, chú tâm, phấn
khởi.
Atha kho āyasmato vaṅgīsassa etadahosi – ‘‘ayaṃ kho āyasmā
sāriputto bhikkhū dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti
samuttejeti sampahaṃseti poriyā vācāya vissaṭṭhāya
anelagalāya atthassa viññāpaniyā. Te ca bhikkhū aṭṭhiṃ katvā
manasi katvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasotā dhammaṃ
suṇanti. Yaṃnūnāhaṃ āyasmantaṃ sāriputtaṃ sammukhā sāruppāhi
gāthāhi abhitthaveyya’’nti.
Khi ấy Tôn giả Vaṅgīsa suy nghĩ: "Tôn giả Sāriputta thuyết
pháp với lời giảng từ hoà, trong sáng, rõ ràng khiến chư tỳ
khưu lắng nghe trong niềm hoan hỷ, chú tâm, phấn khởi. Vậy
trước mặt Tôn giả Sāriputta, ta hãy
nói lên kệ ngôn tán thán thích hợp”
Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṃsaṃ uttarāsaṅgaṃ
karitvā yenāyasmā sāriputto tenañjaliṃ paṇāmetvā āyasmantaṃ
sāriputtaṃ etadavoca – ‘‘paṭibhāti maṃ, āvuso sāriputta,
paṭibhāti maṃ, āvuso sāriputtā’’ti. ‘‘Paṭibhātu taṃ, āvuso
vaṅgīsā’’ti.
Rồi Tôn giả Vaṅgīsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào
một bên vai, chắp tay hướng về Tôn giả Sāriputta và bạch
rằng:
--Bạch Tôn giả Sāriputta , (thi tứ) khởi lên trong tâm con.
Bạch Tôn giả Sāriputta , (thi tứ) khởi lên trong tâm con
Tôn giả Sāriputta nói:
-- Này Hiền giả Vaṅgīsa, hãy đọc lên điều ấy.
Atha kho āyasmā vaṅgīso āyasmantaṃ sāriputtaṃ sammukhā sāruppāhi
gāthāhi abhitthavi – Sāriputto mahāpañño, dhammaṃ deseti bhikkhunaṃ. ‘‘Saṃkhittenapi deseti, vitthārenapi bhāsati; Sāḷikāyiva nigghoso, paṭibhānaṃ udīrayi udīriyati. ‘‘Tassa taṃ desayantassa, suṇanti madhuraṃ giraṃ; Sarena rajanīyena, savanīyena vaggunā; Udaggacittā muditā, sotaṃ odhenti bhikkhavo’’ti.
Rồi Tôn giả Vaṅgīsa trước mặt Tôn giả Sāriputta nói lên kệ
ngôn tán thán thích hợp:
Bậc thông tuệ cao viễn
Dù Ngài giảng ngắn gọn
Ngài nói, thính chúng nghe
maggāmaggassa kovido = Tỏ tường đạo, phi đạo Sāriputto mahāpañño = Đại trí Xá Lợi Phất dhammaṃ deseti bhikkhunaṃ = Giảng pháp cho chúng tỳ khưu ‘‘Saṃkhittenapi deseti = Dù Ngài nói giản lược vitthārenapi bhāsati =hay nói từng chi tiêt Sāḷikāyiva nigghoso = Tiếng như chim Sāḷi paṭibhānaṃ udīrayi udīriyati = dâng trào niềm phấn chấn ‘‘Tassa taṃ desayantassa = Khi Ngài đang thuyết giáo suṇanti madhuraṃ giraṃ = Chúng tăng lắng nghe thanh âm ngọt ngào Sarena rajanīyena = rõ ràng và có sức thuyết phục savanīyena vaggunā = nghe với niềm phấn khởi Udaggacittā muditā =tâm tư đầy hoan hỷ sotaṃ odhenti bhikkhavo’’ti = Chúng tỳ khưu lắng nghe
Chim Sāḷi là một loại yến oanh mà theo Sớ giải thì “loài
chim biết tìm ăn trái ngọt và cất tiếng líu lo ngọt ngào”.
Cụm từ sāḷikāyiva nigghoso là một thành ngữ trong văn học
Phạn ngữ có ý nghĩa như câu ca dao: chim khôn kêu tiếng rãnh
rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
Theo Sớ giải thì Tôn giả Sāriputta ngoài đặc điểm được biết
là bậc đại trí tuệ còn là bậc thuyết pháp với âm thanh êm
ái, từ hoà khiến người nghe sanh lòng tịnh tín. Chữ
udīrayi
được
Sớ giải chú thích là lời nói và ý tưởng như sóng biển liên
tục ập vào bờ chỉ cho sự hùng biện mang tính thuyết phục.
Trong mỹ từ pháp người ta gọi là văn phong ba lan; Phật học
gọi là hải triều âm.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |