|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 22 tháng 08, 2022
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN II-PHẬT PHÁP
Bài 32. DUYÊN SINH (tiếp theo)
Tổng quan
Duyên sinh là một trong phần quan trọng của Phật Pháp.
Đây cũng là một trong những điểm khó hiểu vì những liên
hệ chằng chịt. Rất nhiều đoạn kinh nói về duyên sinh
nhưng người mới đọc thoáng qua không nhận ra. Một người
có niềm tin chân chánh ở Tam Bảo phải có hiểu biết tương
đối về duyên sinh. Một vị Phật trong đêm thành đạo cũng
thắp sáng tuệ giác quán chiếu duyên sinh.
Duyên sinh, hay duyên khởi, là giáo nghĩa về nguyên
nhân, động thái, và tác động của vạn hữu. Hầu hết tôn
giáo đưa ra lập thuyết Sáng Tạo Chủ để nói về một đấng
quyền năng tối cao tạo ra tất cả hiện hữu. Tin vào một
tạo hoá duy nhất tạo ra tất cả thuộc về bản năng, hiểu
những tương quan phức tạp của đời sống đòi hỏi lý trí
nhận thức.
Giáo lý duyên sinh không phải chỉ nói về nguồn gốc tập
khởi mà còn nói về những dịch chuyển, tương tác trong
hiện tại, và tác động tạo nên hệ quả ở tương lai. Nói
cách khác trong duyên sinh không có sự an bài, định mệnh
mà là một dòng hiện hữu sinh động ở bất cứ thời điểm
nào. Phật Pháp không dạy rằng đời sống hiện tại là một
thành phẩm của quá khứ mà mọi thứ đã được lập trình sẳn
với tên gọi tiền định.
Giáo lý duyên sinh nêu rõ cái gì có thể và không có thể
trong nỗ lực chuyển hoá cuộc sống. Không có một nhân tố
quyết định tất cả, ngược lại, sự tồn tại của mỗi cá thể
không thể bị huỷ diệt bởi mãnh lực ngoại tại nào. Người
học Phật cần đặc biệt lưu ý trong giáo lý duyên khởi
chứa đựng những trọng điểm mà người tu tập có thể chuyển
hoá thân tâm.
Với định lý “do có cái nầy nên có cái kia”, sự hiểu biết
về duyên sinh tạo nên cái nhìn rất khác biệt với phản
ứng vui buồn chỉ y cứ trên một điểm. Thí dụ có một chiếc
xe mới không phải chỉ có hưởng thụ chuyện có xe mà còn
phải chấp nhận những phiền luỵ khi có một chiếc xe.
Một đặc điểm của duyên sinh là trình bày rõ giáo lý vô
ngã. Câu Phật ngôn quán chiếu “cái nầy không phải là ta,
không phải là của ta, không phải là tự ngã của ta” chỉ
thật sự tỏ rõ khi hiểu theo định luật duyên khởi. Trên
cả hai phương diện pháp học và pháp hành thì điểm nầy
đều quan trọng.
Thập nhị nhân duyên hay mười hai duyên khởi là nội dung
chính của duyên sinh.
Một đặc điểm khi tìm hiểu về giáo lý duyên khởi là không
nên “đóng khung” những khái niệm. Thập nhị nhân duyên có
thể hiểu theo nhiều chiều kích và phạm trù khác nhau. Do
điểm nầy nên chú ý về cách trình bày.
Một cách ngắn gọn thì duyên khởi có nghĩa là “cái nầy có
thì cái kia có” như trường hợp trong cõi dục giới thì có
năm cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc; có năm dục trưởng
dưỡng thì có năm pháp cái là tham dục, sân độc, hôn
thuỵ, trạo hối, nghi hoặc; có năm pháp cái thì tâm không
an định nếu không tu tập chỉ tịnh. Đây là một thí dụ về
sự liên đới nếu nhìn theo thập nhị nhân duyên vẫn có thể
được nhưng là những “mảng rời rạc”.
Thập nhị nhân duyên có thể hiều theo cách đại loại
(marco) là sự hiện hữu rõ nét có thể nhận diện ngay
trong cuộc sống hằng ngày thí dụ thấy ai có món gì rất
đẹp nên sanh tâm thích thú rồi cố gắng tìm cách để có
được được. Quá trình đó có thể nhận diện từ xúc duyên
thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ và thủ duyên hữu.
Thập nhị nhân duyên cũng có thể hiểu theo cách vĩ mô
(micro), một cách tinh xác nhất nếu y cứ theo Thắng Pháp
Abhidhamma. Ở đây thập nhị nhân duyên có thể nói về sự
tương tác giữa các sát na trong một diễn trình tâm thức.
Điều nầy tương tự như chúng ta nói trái chuối là loại
trái cây có nhiều dinh dưỡng như cách nói chung chung
(marcro) nhưng chỉ có sự phân định chuẩn xác thì mới
hiểu tại sao chuối có nhiều potassium rất cần cho sức
khoẻ mà rất hại cho người bị bệnh đường huyết.
Thập nhị nhân duyên cũng có thể hiểu theo “tam sinh”:
đời trước, đời nầy, và đời sau trong tiến trình sanh tử.
Theo cách nầy
thì vô minh, hành thuộc kiếp trước. Thức, danh sắc, lục
nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu thuộc đời nầy. Sanh, lão tử
thuộc đời sau. Đây là cách trình bày rộng rãi nhất về
tiến trình luân hồi cho chúng ta có cái nhìn đại quan về
sự hiện hữu của chúng sanh.
Với những điểm trên thì cách trình bày nào cũng có vẻ
như phiến diện. Giống như mô tả về một toà lâu đài theo
du khách, theo người cư trú, theo kiến trúc sư đều đúng
nhưng không giống nhau. Phải rất cởi mở và hiểu đang nói
ở phạm trù nào mới không có sự phản bác đối với những dị
biệt.
Những trình bày về mười hai nhân duyên trong bài nầy cố
gắng bắt đầu từ định nghĩa của mỗi duyên sanh, sự liên
đới giữa mấu chốt nầy sang mấu chốt khác và nói theo
cách gần gũi dễ hiểu nhất. Nếu cần đi xa hơn, như giảng
theo Thắng Pháp, thì xem như là phần phụ chú.
Nên nhớ đây là đề tài rất tế nhị và khó trình bày
trong Phật học. Phần tiếp theo: Vô Minh Duyên Hành (avijjā paccayā sankhārā) Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng |