|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 23 tháng 08, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VIII. TƯƠNG ƯNG TRƯỞNG LÃO VAṄGĪSA (S. i, 190).
Bài
7. Kinh Tự Tứ (Pavāraṇāsuttaṃ)
-KHÔNG THỂ KHÔNG CẢM KHÁI DÙ LÀ A LA HÁN.
Một xã hội thật
sự văn minh phải được tạo thành bởi những con người văn
minh. Một hội chúng cao cả là sự vân tập của những bậc chí
thiện. Hình ảnh ở đây là một ngày trăng tròn huyền ảo tại
một già lam tôn nghiêm, Đấng Chánh Đẳng Chánh Giác ngồi giữa
thánh chúng toàn là những bậc vô nhiễm đoạn tận phiền não,
chiến thắng tử thần. Trong không khí hoàn toàn thanh tịnh
một truyền thống tuyệt đẹp được diễn ra khi Bậc Đạo Sư lên
tiếng mời thỉnh chư tăng nêu ra những khiếm khuyết nếu có về
sở hành của Ngài . Bậc thánh đệ tử thượng thủ thinh văn thay
mặt Tăng chúng đáp lời theo nghi luật. Vị nầy chẳng những
nói lên sự khẳng định về tánh thanh tịnh của Phật mà còn
xưng tán Bậc Thầy đã giác ngộ và tuyên lưu con đường dẫn đến
hoàn toàn giải thoát. Vị thánh đệ tử nầy cũng thỉnh cầu được
chỉ giáo về sở hành của bản thân. Bậc Vô Thượng Điều Ngự
chẳng những xác chứng về sự thanh tịnh tuyệt đối của bậc
thượng thủ thinh văn mà còn tán thán trí tuệ cao vời của vị
đệ tử nầy. Tôn giả Sāriputta cũng thỉnh cầu Đức Phật chỉ
giáo cho Tăng chúng những khuyết điểm trong hành động và lời
nói. Một lần nữa Đức Phật xác nhận sự vô nhiễm của thánh
chúng. Đi xa hơn, Bậc Đạo Sư còn nói lên quả chứng của đại
chúng tỳ khưu.
Đó là những giây
phút hãn hữu trong vũ trụ khi những bậc ứng cúng la hán đồng
tham dự lễ tự tứ. Dù tự thân thanh tịnh nhưng vẫn nói lên
lời thỉnh mời chỉ giáo khuyết điểm.
Những đáp từ không phải chỉ xác chứng sự vô khuyết
phạm mà còn là khẳng định tâm thể viên giác như trăng sáng
ngày rằm. Đẹp và hiếm hoi. Hình ảnh tuyệt vời đó không thể
không khiến một con người dù là bậc a la hán nói lên lời cảm
khái.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati pubbārāme
migāramātupāsāde mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṃ pañcamattehi
bhikkhusatehi sabbeheva arahantehi. Tena kho pana samayena
bhagavā tadahuposathe pannarase pavāraṇāya
bhikkhusaṅghaparivuto abbhokāse nisinno hoti. Atha kho
bhagavā tuṇhībhūtaṃ bhikkhusaṅghaṃ anuviloketvā bhikkhū
āmantesi – ‘‘handa dāni, bhikkhave, pavāremi vo. Na ca me
kiñci garahatha kāyikaṃ vā vācasikaṃ vā’’ti.
Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại Pubbārāma (Ðông Phương Tự),
Migaramātupāsāda (Lộc Mẫu giảng đường) ở Sàvatthi, cùng với
đại chúng tỳ khưu khoảng năm trăm vị - tất cả đều là những
bậc A la hán.
Vào ngày rằm lễ tự tứ, Đức Thế Tôn ngồi giữa với chư tỳ khưu
vây quanh. Đức Thế Tôn nhìn quanh chư tỳ khưu đang yên lặng
và lên tiếng:
--Hỡi chư tỳ khưu, ta mời các thầy phê bình những khuyết
điểm ở về bất cứ hành động hoặc lời nói của ta.
Evaṃ vutte, āyasmā sāriputto uṭṭhāyāsanā ekaṃsaṃ
uttarāsaṅgaṃ karitvā yena bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā
bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘na kho mayaṃ, bhante, bhagavato
kiñci garahāma kāyikaṃ vā vācasikaṃ vā. Bhagavā hi, bhante,
anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa
sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū maggavidū
maggakovido. Maggānugā ca, bhante, etarahi sāvakā viharanti
pacchā samannāgatā; ahañca kho, bhante, bhagavantaṃ
pavāremi. Na ca me bhagavā kiñci garahati kāyikaṃ vā
vācasikaṃ vā’’ti.
Nghe vậy Tôn giả Sāriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng
y vào một bên vai, chắp tay kính lễ hướng về Đức Thế Tôn
bạch rằng:
--Ngưỡng bạch Đức Thế Tôn, chúng con không có gì để chỉ
trích Đức Thế Tôn về hành động và lời nói. Đức Thế Tôn là vị
khởi xướng đường đạo chưa từng được hiện khởi; Ngài thiết
lập đường đạo chưa từng được khai mở;
Ngài tuyên lưu đường đạo chưa từ đường giảng giải;
Ngài bậc khám phá, quán triệt, thiện xảo đường đạo. Chúng đệ
tử của Ngài đã theo bước, đã chứng đạt. Bạch Đức Thế Tôn,
riêng con nếu có hành động hoặc lời nói khiếm khuyết xin
Ngài chỉ giáo.
‘‘Na khvāhaṃ te, sāriputta, kiñci garahāmi kāyikaṃ vā
vācasikaṃ vā. Paṇḍito tvaṃ, sāriputta, mahāpañño tvaṃ,
sāriputta, puthupañño tvaṃ, sāriputta, hāsapañño tvaṃ,
sāriputta, javanapañño tvaṃ, sāriputta, tikkhapañño tvaṃ,
sāriputta, nibbedhikapañño tvaṃ, sāriputta. Seyyathāpi,
sāriputta, rañño cakkavattissa jeṭṭhaputto pitarā pavattitaṃ
cakkaṃ sammadeva anuppavatteti; evameva kho tvaṃ, sāriputta,
mayā anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ sammadeva
anuppavattesī’’ti.
-- Này Sāriputta, Ta không có gì chỉ trích Thầy về hành động
hay lời nói. Thầy là bậc đại trí, bậc quảng tuệ,
bậc tốc trí, bậc thắng trí, bậc lợi tuệ, bậc thông
tuệ. Giống như
thái tử của
Chuyển luân vương khéo vận hành guồng máy mà Chuyển luân
vương đã vận hành, Thầy là người khéo vận hành Pháp Luân mà
ta đã vận hành.
‘‘No ce kira me, bhante, bhagavā kiñci garahati kāyikaṃ vā
vācasikaṃ vā. Imesaṃ pana, bhante, bhagavā pañcannaṃ
bhikkhusatānaṃ na kiñci garahati kāyikaṃ vā vācasikaṃ
vā’’ti. ‘‘Imesampi khvāhaṃ, sāriputta, pañcannaṃ
bhikkhusatānaṃ na kiñci garahāmi kāyikaṃ vā vācasikaṃ vā.
Imesañhi, sāriputta, pañcannaṃ bhikkhusatānaṃ saṭṭhi bhikkhū
tevijjā, saṭṭhi bhikkhū chaḷabhiññā, saṭṭhi bhikkhū
ubhatobhāgavimuttā, atha itare paññāvimuttā’’ti.
-- Ngưỡng bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn không có gì chê trách
con về sở hành thân khẩu, vậy bạch Thế Tôn, đối với khoảng
năm trăm tỳ khưu này, nếu có hành động hoặc lời nói khiếm
khuyết xin Ngài chỉ giáo.
-- Này Sāriputta, Ta không có gì phê bình khiếm khuyết đối
với sở hành thân khẩu của năm trăm tỳ khưu nầy. Trong số
nầy, sáu mươi vị là bậc tam minh, sáu mươi vị là bậc lục
thông, sáu mươi vị là bậc câu phần giải thoát, tất cả còn
lại là bậc tuệ giải thoát.
Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṃsaṃ uttarāsaṅgaṃ
karitvā yena bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā bhagavantaṃ
etadavoca – ‘‘paṭibhāti maṃ bhagavā, paṭibhāti maṃ
sugatā’’ti. ‘‘Paṭibhātu taṃ, vaṅgīsā’’ti bhagavā avoca.
Lúc ấy Tôn giả Vaṅgīsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y
vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch rằng:
--Bạch Thế Tôn, cảm khái khởi lên
trong tâm con. Bạch Thiện Thệ, cảm khái khởi
lên trong tâm con
Đức Thế Tôn nói:
-- Này Vaṅgīsa, hãy đọc lên cảm khái ấy.
Atha kho āyasmā vaṅgīso bhagavantaṃ sammukhā sāruppāhi
gāthāhi abhitthavi – Saṃyojanabandhanacchidā, anīghā khīṇapunabbhavā isī. ‘‘Cakkavattī yathā rājā, amaccaparivārito; Samantā anupariyeti, sāgarantaṃ mahiṃ imaṃ. ‘‘Evaṃ vijitasaṅgāmaṃ, satthavāhaṃ anuttaraṃ; Sāvakā payirupāsanti, tevijjā maccuhāyino. ‘‘Sabbe bhagavato puttā, palāpettha na vijjati; Taṇhāsallassa hantāraṃ, vande ādiccabandhuna’’nti.
Rồi Tôn giả Vaṅgīsa trước mặt Thế Tôn, nói lên kệ ngôn tán
thán thích hợp:
Nay ngày rằm thanh tịnh
Như chuyển luân thánh vương
Cũng vậy Đấng Chiến Thắng
Tất cả con Thế Tôn
bhikkhū pañcasatā samāgatā = năm trăm tỳ khưu vân tập Saṃyojanabandhanacchidā = cắt đứt kiết sử trói buộc anīghā khīṇapunabbhavā isī = vô phiền, không còn sanh tử ‘‘Cakkavattī yathā rājā = giống như chuyển luân vương amaccaparivārito = với những đại thần tuỳ tùng Samantā anupariyeti = du hành khắp đại địa sāgarantaṃ mahiṃ imaṃ = với đại hải là ranh phận ‘‘Evaṃ vijitasaṅgāmaṃ = Cũng vậy, Bậc Chiến Thắng satthavāhaṃ anuttaraṃ = Bậc Dẫn Đạo tối thượng Sāvakā payirupāsanti = với chúng thinh văn đoanh vây tevijjā maccuhāyino = là những vị chứng tam minh đã vượt thắng tử thần ‘‘Sabbe bhagavato puttā = Tất cả con của Đức Thế Tôn palāpettha na vijjati = không tìm thấy ai là người bất xứng Taṇhāsallassa hantāraṃ = Bậc hủy diệt mũi tên khát ái vande ādiccabandhuna’’nti = Con đãnh lễ Đấng thuộc dòng họ Đại Nhật.
Theo âm lịch Ấn Độ mỗi tháng có hai tuần là thượng tuần và
hạ tuần. Thượng tuần khởi đầu từ mùng một tới 15. Ngày mười
lăm được xem là ngày rằm. Tại Việt Nam đôi khi người ta nghĩ
là ngày 16 âm lịch mới là ngày trăng tròn. Ngày 15 là ngày
trai giới và ngày bố tát.
Thuật ngữ pavāraṇā
được
dịch là tự tứ có nghĩa là chính mình mời thỉnh sự phê bình,
chỉ giáo đối với những khuyết điểm. Lễ nầy mỗi năm chỉ có
một lần trong Tăng Chúng sau ba tháng an cư (tính đúng theo
Luật Tạng nhằm rằm tháng chín âm lịch). Kết thúc mùa kiết hạ
Tăng chúng vân tập và theo thứ tự từ lớn đến nhỏ nói lên lời
mời thình chư tăng chỉ điểm cho những khiếm khuyết của bản
thân xuyên suốt trong thời gian an cư cộng trú. Tôn
giả Vaṅgīsa trong thời điểm nầy đã là bậc A la hán vì có mặt
trong lễ tự tứ được ghi nhận là tất cả đều là những bậc hoàn
toàn giải thoát.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |