|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 24 tháng 08, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VIII. TƯƠNG ƯNG TRƯỞNG LÃO VAṄGĪSA (S. i, 192).
Bài
8. Kinh Hơn Một Nghìn (Parosahassasuttaṃ)
-ĐỪNG NÓI ĐẠO KHẢ ĐẠO PHI THƯỜNG ĐẠO.
Đạo Đức Kinh của
Lão Trang nói rằng “Đạo mà nói được thì không phải là chân
đạo”. Ngôn ngữ không thể nói hết những đạo lý thâm sâu nên
người ta nói đến “vô ngôn”. Niết bàn vốn vượt ngoài khả năng
biểu đạt của ngôn ngữ. Đức Phật, bậc Vô Thượng Điều Ngự, đã
có những lời dạy về niết bàn và con đường đến niết bàn. Ngài
không có dụng ý là dùng ngôn ngữ để minh hoạ trọn vẹn nhưng
trong cách “tạm mượn ngôn từ mà nói” cũng đủ để bậc trí hoan
hỷ với niết bàn, tinh cần trên hành trình đến cứu cánh niết
bàn, và chứng ngộ niết bàn. Không im lặng với điều khó diễn
tả, không thúc thủ trước hành trình cao vợi, không chỉ tán
thán mà còn phân tích rõ ràng phương cách đạt đến đích điểm
tối hậu. Cảm nhận được “sự khéo thuyết” của Bậc Đạo Sư, vị
đệ tử vốn là một thi nhân lão luyện trong ngôn từ không thể
không buông lời tán thán.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṃ
aḍḍhatelasehi bhikkhusatehi. Tena kho pana samayena bhagavā
bhikkhū nibbānapaṭisaṃyuttāya dhammiyā kathāya sandasseti
samādapeti samuttejeti sampahaṃseti. Te ca bhikkhū aṭṭhiṃ
katvā manasi katvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasotā
dhammaṃ suṇanti. Atha kho āyasmato vaṅgīsassa etadahosi –
‘‘ayaṃ kho bhagavā bhikkhū nibbānapaṭisaṃyuttāya dhammiyā
kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṃseti. Te
ca bhikkhū aṭṭhiṃ katvā manasi katvā sabbacetasā
samannāharitvā ohitasotā dhammaṃ suṇanti. Yaṃnūnāhaṃ
bhagavantaṃ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthaveyya’’nti.
Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại tại Jetavana – ngôi già lam do
ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc)
dâng cúng ở Sàvatthi, cùng với đại chúng tỳ khưu một
ngàn hai trăm năm mươi vị.
Bấy giờ Đức Thế Tôn thuyết pháp về Niết bàn khiến chư tỳ
khưu hoan hỷ, phấn khởi, gội nhuần tâm ý. Chư tỳ khưu nghe
pháp với sự lóng tai, hướng tâm, tập trung.
Rồi Tôn giả Vaṅgīsa suy nghĩ: "Nay Đức Thế Tôn thuyết pháp
về Niết bàn khiến chư tỳ khưu hoan hỷ, phấn khởi, gội nhuần
tâm ý. Chư tỳ khưu nghe pháp với sự lóng tai, hướng tâm, tập
trung. Vậy trước mặt Thế Tôn, ta hãy nói lên kệ ngôn tán
thán thích hợp."
Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṃsaṃ uttarāsaṅgaṃ
karitvā yena bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā bhagavantaṃ
etadavoca – ‘‘paṭibhāti maṃ bhagavā, paṭibhāti maṃ
sugatā’’ti. ‘‘Paṭibhātu taṃ, vaṅgīsā’’ti bhagavā avoca.
Lúc ấy Tôn giả Vaṅgīsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y
vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch rằng:
--Bạch Thế Tôn, cảm khái khởi lên trong tâm con. Bạch Thiện
Thệ, cảm khái khởi lên trong tâm con
Đức Thế Tôn nói:
-- Này Vaṅgīsa, hãy đọc lên cảm khái ấy.
Atha kho āyasmā vaṅgīso bhagavantaṃ sammukhā sāruppāhi
gāthāhi abhitthavi – Desentaṃ virajaṃ dhammaṃ, nibbānaṃ akutobhayaṃ. ‘‘Suṇanti dhammaṃ vimalaṃ, sammāsambuddhadesitaṃ; Sobhati vata sambuddho, bhikkhusaṅghapurakkhato. ‘‘Nāganāmosi bhagavā, isīnaṃ isisattamo; Mahāmeghova hutvāna, sāvake abhivassati. ‘‘Divāvihārā nikkhamma, satthudassanakamyatā; Sāvako te mahāvīra, pāde vandati vaṅgīso’’ti.
Rồi Tôn giả Vaṅgīsa trước mặt Thế Tôn, nói lên kệ ngôn tán
thán thích hợp:
Hơn một ngàn tỳ khưu
Họ nghe pháp - vô - nhiễm
Thế Tôn, bậc Long Tượng
Từ tịnh cư đến đây
‘‘Kiṃ nu te, vaṅgīsa, imā gāthāyo pubbe parivitakkitā, udāhu
ṭhānasova taṃ paṭibhantī’’ti? ‘Na kho me, bhante, imā
gāthāyo pubbe parivitakkitā, atha kho ṭhānasova maṃ
paṭibhantī’ti. ‘Tena hi taṃ, vaṅgīsa, bhiyyosomattāya pubbe
aparivitakkitā gāthāyo paṭibhantū’ti.
-- Này Vaṅgīsa, những kệ
ngôn nầy đã được trước tác từ trước hay ứng khẩu tại chỗ?
-- Bạch Thế Tôn, những kệ
ngôn nầy con ứng khẩu tại chỗ chứ không phải trước tác từ
trước.
-- Vậy này Vaṅgīsa, hãy nói
lên nhiều hơn những kệ ngôn ứng khẩu
không chuẩn bị trước.
-- Dạ vâng bạch Thế Tôn.
‘Evaṃ, bhante’ti kho āyasmā vaṅgīso bhagavato paṭissutvā
bhiyyosomattāya bhagavantaṃ pubbe aparivitakkitāhi gāthāhi
abhitthavi – Taṃ passatha bandhapamuñcakaraṃ, asitaṃ bhāgaso pavibhajaṃ. ‘‘Oghassa nittharaṇatthaṃ, anekavihitaṃ maggaṃ akkhāsi; Tasmiñce amate akkhāte, dhammaddasā ṭhitā asaṃhīrā. ‘‘Pajjotakaro ativijjha, sabbaṭṭhitīnaṃ atikkamamaddasa; Ñatvā ca sacchikatvā ca, aggaṃ so desayi dasaddhānaṃ. ‘‘Evaṃ sudesite dhamme, Ko pamādo vijānataṃ dhammaṃ; Tasmā hi tassa bhagavato sāsane; Appamatto sadā namassamanusikkhe’’ti.
Tôn giả Vaṅgīsa vâng lời Đức
Thế Tôn và nói lên những kệ ngôn xưng tán ứng khẩu không
chuẩn bị trước.
Thoát ác đạo của Ma
Dạy đạo nhiều phương diện
Bậc Cầm Đuốc thấy rõ
Khi Pháp được thiện thuyết
Taṃ passatha bandhapamuñcakaraṃ, asitaṃ bhāgaso pavibhajaṃ = Hãy nhìn Ngài, bậc đoạn mọi trói buộc, không vướng mắc, phân tích chánh pháp ‘‘Oghassa nittharaṇatthaṃ, anekavihitaṃ maggaṃ akkhāsi = Ngài đã tuyên thuyết con đường với nhiều phương diện giúp chúng con vượt cuồng lưu Tasmiñce amate akkhāte dhammaddasā ṭhitā asaṃhīrā =Những bậc kiến giả bất động trong cảnh giới bất tử do Ngài tuyên thuyết ‘‘Pajjotakaro ativijjha, sabbaṭṭhitīnaṃ atikkamamaddasa = Bậc cầm đuốc soi đường, nhìn xuyên suốt, thấy được sự chuyển hoá trong tất cả giai đoạn Ñatvā ca sacchikatvā ca, aggaṃ so desayi dasaddhānaṃ = Sau khi liễu tri và tỏ ngộ Ngài đã thuyết giảng cho “nhóm năm thầy (Kiều Trần Như)” ‘‘Evaṃ sudesite dhamme = Khi chánh pháp khéo thuyết như vậy Ko pamādo vijānataṃ dhammaṃ = ai là người biết được lại có thể chễnh mảng? Tasmā hi tassa bhagavato sāsane Appamatto sadā namassamanusikkhe’’ti = nên chi chúng con tinh cần phụng hành trong giáo pháp của Đức Thế Tôn.
Bài kinh nầy có điểm rất khó dịch là cụm từ isīnaṃ isisattamo.
Có hai cách giải thích theo Sớ Giải và Hậu Sớ Giải. Trên
phương diện văn cú theo thể biền ngẫu củ thi từ thì có thể
dịch là “Bậc Đại Sĩ trong bảy Đại Sĩ” ý nói là là một trong
Thất Phật tính từ Đức Phật Vipassī (Tỳ Bà Thi) đối xứng với
phần sau với câu “Bậc thầy dạy cho Nhóm Năm Thầy”. Trên
phương diện thuần ngữ
pháp thì chữ sattama
là biến thể của sant nên được hiểu là “sattamo uttaro
settḥo – cao quý nhất giữa những con người cao quý” chỉ cho
Đức Phật là bậc vô thượng năng nhân. Theo Sớ giải thì cụm từ ummaggapathaṃ Mārassa – ác đạo của Ma
chỉ cho hành trì luân hồi sanh tử với vô số phiền não thô
tế. Câu Tasmiñce amate akkhāte được Sớ giải giảng rộng là amate
akkhāte ti amatāvahe dhamme desite (Pháp bất tử do Ngài
tuyên thuyết đưa đến cảnh giới bất tử) Chữ dasaddhānaṃ (dịch nghĩa đen là “phân nữa của mười” tức là
số năm) chỉ cho năm vị Kiều Trần Như là nhóm tỳ khưu đầu
tiên được khai thị. Đây là cách dùng chữ rất khéo để kết cấu
thi từ theo luật về âm vận.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |