BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 27 tháng 08, 2022

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG VIII. TƯƠNG ƯNG TRƯỞNG LÃO VAṄGĪSA (S. i, 193).

Bài 9. Kinh Koṇḍañña (Koṇḍaññasuttaṃ) -TÁN THÁN MỘT CON NGƯỜI LỊCH SỬ.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png  

 

 

 

Bài pháp đầu tiên – hay Kinh Chuyển Pháp Luân – là bài pháp lịch sử. Người đệ tử đầu tiên được nghe bài pháp nầy và giác ngộ là một người lịch sử. Tôn giả Aññā Koṇḍañña nguyên là một bà la môn kiệt xuất về kinh điển Veda.  Với bao nhiêu sở tri và kiến chấp vậy mà nghe một bài kinh về tứ diệu đế và trung đạo liền thành tựu tuệ giác. Ngay tại pháp toạ, Đức Thế Tôn với tâm của mình nhận biết sự giác ngộ thật sự của Koṇḍañña đã tuyên bố trong đoạn kết của bài pháp là “Koṇḍañña đã liễu ngộ” nên chữ “liễu ngộ” từ đó đã trở thành biệt danh của tôn giả và đi vào lịch sử. Có biết rõ và nhận định đúng mức thì mới hiểu tại sao một lão tăng lại có vị thế lịch sử như vậy. Điều nầy tạo nên cảm khái của một thi nhân mà cũng là một bậc la hán.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.

Thuở ấy Đúc Thế Tôn ngự ở chùa Veḷuvanna (Trúc Lâm), tại khu vực Kalandakanivāpa (chỗ cho sóc ăn),  thành Rājagaha (Vương Xá).

Atha kho āyasmā aññāsikoṇḍañño [aññākoṇḍañño (sī. syā. kaṃ.)] sucirasseva yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati, pāṇīhi ca parisambāhati, nāmañca sāveti – ‘‘koṇḍaññohaṃ, bhagavā, koṇḍaññohaṃ, sugatā’’ti.

Bấy giờ Tôn giả Aññā Koṇḍañña,  đến diện kiến Thế Tôn sau một thời gian khá dài.  Sau khi đến đê đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn, tay xoa chân Thế Tôn và nói lên tên của mình:

-- Bạch Đức Thế Tôn, con là Koṇḍañña. Bạch Thiện Thệ, con là Koṇḍañña.

Atha kho āyasmato vaṅgīsassa etadahosi – ‘‘ayaṃ kho āyasmā aññāsikoṇḍañño sucirasseva yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati, pāṇīhi ca parisambāhati, nāmañca sāveti – ‘koṇḍaññohaṃ, bhagavā, koṇḍaññohaṃ, sugatā’ti. Yaṃnūnāhaṃ āyasmantaṃ aññāsikoṇḍaññaṃ bhagavato sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthaveyya’’nti.

Rồi Tôn giả Vaṅgīsa khởi ý nghĩ: "Tôn giả Aññā Koṇḍañña,  đến diện kiến Thế Tôn sau một thời gian khá dài.  Sau khi đến đê đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn, tay xoa chân Thế Tôn và nói lên tên của mình:  Bạch Đức Thế Tôn, con là Koṇḍañña. Bạch Thiện Thệ, con là Koṇḍañña. Vậy ta hãy ở trước mặt Thế Tôn, ta hãy nói lên kệ ngôn thích hợp tán thán Tôn giả Aññā Koṇḍañña".

Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṃsaṃ uttarāsaṅgaṃ karitvā yena bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘paṭibhāti maṃ, bhagavā, paṭibhāti maṃ, sugatā’’ti. ‘‘Paṭibhātu taṃ, vaṅgīsā’’ti bhagavā avoca.

Lúc ấy Tôn giả Vaṅgīsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch rằng:

--Bạch Thế Tôn, cảm khái khởi lên trong tâm con. Bạch Thiện Thệ, cảm khái khởi lên trong tâm con

Đức Thế Tôn nói:

-- Này Vaṅgīsa, hãy đọc lên cảm khái ấy.

Atha kho āyasmā vaṅgīso āyasmantaṃ aññāsikoṇḍaññaṃ bhagavato sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi –

‘‘Buddhānubuddho so thero, koṇḍañño tibbanikkamo;
Lābhī sukhavihārānaṃ, vivekānaṃ abhiṇhaso.
‘‘Yaṃ sāvakena pattabbaṃ, satthusāsanakārinā;
Sabbassa taṃ anuppattaṃ, appamattassa sikkhato.
‘‘Mahānubhāvo tevijjo, cetopariyāyakovido;
Koṇḍañño buddhadāyādo, pāde vandati satthuno’’ti.

Rồi Tôn giả Vaṅgīsa nói lên kệ ngôn tán thán thích hợp đối với Tôn giả Koṇḍañña với sự hiện diện của Đức Thế Tôn:

Giác ngộ ngay sau Phật
Tôn giả Koṇḍañña
Nhiệt tâm và tinh cần,
Viễn ly, trú tịnh lạc

Những gì một đệ tử
Hành lời dạy Đạo sư
Vị ấy đã thành tựu
Với dõng mãnh tinh tấn

Đại sĩ chứng tam minh
Cùng với tha tâm thông
Tôn giả Koṇḍañña
Người kế thừa Phật Pháp
Đảnh lễ chân Đạo sư

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

‘‘Buddhānubuddho so thero = vị trưởng lão thành phật ngay sau Phật
koṇḍañño tibbanikkamo = Koṇḍañña bậc dõng mãnh tinh cần
Lābhī sukhavihārānaṃ vivekānaṃ abhiṇhaso = Thường sống trong viễn ly, tịnh lạc
‘‘Yaṃ sāvakena pattabbaṃ = những gì có thể chứng được bởi một đệ tử
satthusāsanakārinā = thực hành lời dạy của bậc Đạo Sư
Sabbassa taṃ anuppattaṃ = Ngài đã chứng đạt được tất cả
appamattassa sikkhato = Với sự hành trì không xao lãng
‘‘Mahānubhāvo tevijjo = Bậc đại sĩ chứng tam minh
cetopariyāyakovido = thiện xảo trong tha tâm thông
Koṇḍañño buddhadāyādo=Koṇḍañña người thừa tự Phật
pāde vandati satthuno’’ti = đảnh lễ chân bậc Đạo sư

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Theo Sớ Giải thì thời gian dài (sucirasseva) vắng mặt là 12 năm. Tôn giả Koṇḍañña là một trong tám vị bà la môn thông thái đã đến gặp thái tử Siddhattha sơ sinh trong lễ đặt tên. Với niềm tin là thái tử sau nầy sẽ xuất gia trở thành bậc chân sư vĩ đại nên quyết tâm theo dõi chờ đợi. Khi nghe Đức Bồ Tát rời hoàng cung xuất gia Koṇḍañña bấy giờ tuổi đã cao rủ theo con của những bà la môn thông thái tổng cộng là 5 vị mà sau nầy gọi là “nhóm năm thầy – Pañcavaggiyā” (gồm Kondañña, Bhaddiya, Vappa, Mahānāma, Assaji). Sau khi chứng quả A la hán và hoằng hoá thời gian ngắn Tôn giả đã quy ẩn tại rừng Chaddanta trong rặng Himalaya bên hồ   Mandākini. Đến khi thấy thời điểm viên tịch đã tới nên đến diện kiến và xin phép Đức Thế Tôn để viên tịch.

Câu buddhānubuddho so thero - vị trưởng lão thành phật ngay sau Phật -  có nghĩa là trong thời giáo pháp hiện tại sau khi Đức Thế Tôn tự thân giác ngộ thì Tôn giả Koṇḍañña là người giác ngộ tiếp theo (đầu tiên trong hàng đệ tử). Sau khi Đức Thế Tôn thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân Tôn giả chứng tu đà huờn và Đức Phật xác chứng với câu:  Koṇḍañña đã liễu ngộ, Koṇḍañña đã liễu ngộ (Aññāsi vata bho koṇḍañño Aññāsi vata bho) do câu nói lịch sử nầy từ đó Tôn giả được gọi là Aññākoṇḍañño (A Nhã Kiều Trần Như).  ( Trong thuật ngữ Phật học chữ Buddhānubuddhasāvaka - những bậc thinh văn giác ngộ tiếp sau Đức Phật chỉ cho thế hệ những đệ tử lỗi lạc xuất hiện trong sơ thời của giáo pháp như các ngài Maha Kassapa, Sariputta, Moggalana, Anuruddha…

Theo Sớ Giải chữ sukhavihāra chỉ cho dittṭḥadhammasukhavihārā - hiện tại lạc trú mà ở đây là thiền chứng và đạo quả.

Chữ vivekā - viễn ly bao gồm thân viễn ly, tâm viễn ly, sở y viễn ly. Từ nầy được Tôn giả Vaṅgīsa dùng rất khéo trong thi tứ với cả hai nghĩa đen và nghĩa bóng. Ngụ ý Tôn giả Koṇḍañña đã viễn ly chư vọng nghiệp viên thành vô thượng đạo mà cũng là người sống ẩn dật.

 

Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-