|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 01 tháng 08, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 116. HIỆN TƯỢNG VẬT CHẤT TRONG TUỆ GIÁC CỦA PHẬT. Kinh Hành Trình (Acariṃsuttaṃ)
Cũng
thời xây cất nhưng cái nhìn và kỹ năng của một thợ xây cất
khác xa với công trình sư. Đức Phật, bậc chánh đẳng chánh
giác, dù trước khi thành đạo khi quán chiếu thế giới nầy
cũng rất khác cái nhìn của các thánh đệ tử thinh văn sau
nầy. Đó là cái nhìn cao rộng, toàn diện, và điểm đến là
chung cuộc của một hành trình công phu. Cho dù lời kinh cô
đọng, từ vựng dễ hiểu nhưng không phải dễ để có thể thấy hết
toàn bộ ý nghĩa về hiện tượng giới qua những Phật ngôn cô
đọng nầy.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘pathavīdhātuyāhaṃ, bhikkhave,
assādapariyesanaṃ acariṃ, yo pathavīdhātuyā assādo
tadajjhagamaṃ, yāvatā pathavīdhātuyā assādo paññāya me so
sudiṭṭho. Pathavīdhātuyāhaṃ, bhikkhave, ādīnavapariyesanaṃ
acariṃ, yo pathavīdhātuyā ādīnavo tadajjhagamaṃ, yāvatā
pathavīdhātuyā ādīnavo paññāya me so sudiṭṭho.
Pathavīdhātuyāhaṃ, bhikkhave, nissaraṇapariyesanaṃ acariṃ,
yaṃ pathavīdhātuyā nissaraṇaṃ tadajjhagamaṃ, yāvatā
pathavīdhātuyā nissaraṇaṃ paññāya me taṃ sudiṭṭhaṃ’’.
Ngự tại
Sāvatthi….
-- Này
chư Tỳ khưu,
Ta đã đi
và
tìm vị ngọt của địa giới. Ta đã tìm được vị ngọt của địa
giới. Với trí tuệ Ta đã khéo thấy
toàn bộ
vị ngọt ấy.
-- Này
chư Tỳ khưu,
Ta đã đi
và
tìm
sự nguy hiểm
của địa giới. Ta đã tìm được
sự nguy hiểm
của địa giới. Với trí tuệ Ta đã khéo thấy
toàn bộ sự nguy hiểm
ấy.
-- Này
chư Tỳ khưu,
Ta đã đi
và
tìm
sự xuất ly
của địa giới. Ta đã tìm được
sự xuất ly
của địa giới. Với trí tuệ Ta đã khéo thấy
toàn bộ xuất ly
ấy.
‘‘Āpodhātuyāhaṃ, bhikkhave...pe... tejodhātuyāhaṃ,
bhikkhave... vāyodhātuyāhaṃ, bhikkhave, assādapariyesanaṃ
acariṃ, yo vāyodhātuyā assādo tadajjhagamaṃ, yāvatā
vāyodhātuyā assādo paññāya me so sudiṭṭho. Vāyodhātuyāhaṃ,
bhikkhave, ādīnavapariyesanaṃ acariṃ, yo vāyodhātuyā ādīnavo
tadajjhagamaṃ, yāvatā vāyodhātuyā ādīnavo paññāya me so
sudiṭṭho. Vāyodhātuyāhaṃ, bhikkhave, nissaraṇapariyesanaṃ
acariṃ, yaṃ vāyodhātuyā nissaraṇaṃ tadajjhagamaṃ, yāvatā
vāyodhātuyā nissaraṇaṃ paññāya me taṃ sudiṭṭhaṃ.
-- Này
chư Tỳ khưu,
Ta đã đi
và
tìm vị ngọt của thủy giới...
-- Này
chư Tỳ khưu,
Ta đã đi
và
tìm vị ngọt của hỏa giới...
-- Này
chư Tỳ khưu,
Ta đã đi
và
tìm vị ngọt của phong giới. Ta đã tìm được vị ngọt của phong
giới. Với trí tuệ Ta đã khéo thấy
toàn bộ
vị ngọt ấy.
-- Này
chư Tỳ khưu,
Ta đã đi
và
tìm
sự nguy hiểm
của phong giới. Ta đã tìm được
sự nguy hiểm
của phong giới. Với trí tuệ Ta đã khéo thấy
toàn bộ sự nguy hiểm
ấy.
-- Này
chư Tỳ khưu,
Ta đã đi
và
tìm
sự xuất ly
của phong giới. Ta đã tìm được
sự xuất ly
của phong giới. Với trí tuệ Ta đã khéo thấy
toàn bộ xuất ly
ấy.
‘‘Yāvakīvañcāhaṃ, bhikkhave, imāsaṃ catunnaṃ dhātūnaṃ
assādañca assādato ādīnavañca
ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṃ na
abbhaññāsiṃ, neva tāvāhaṃ, bhikkhave, sadevake loke samārake
sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya
anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddhoti paccaññāsiṃ.
‘‘Yato ca khvāhaṃ, bhikkhave, imāsaṃ catunnaṃ dhātūnaṃ
assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca
nissaraṇato yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, athāhaṃ, bhikkhave,
sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya
sadevamanussāya anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddhoti
paccaññāsiṃ. Ñāṇañca pana me dassanaṃ udapādi – ‘akuppā me
vimutti, ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’’’ti.
-- Này chư Tỳ khưu,
cho đến khi nào đối với địa giới, thuỷ giới, hoả giới, phong
giới Ta chưa thật sự thấu triệt vị ngọt, nguy hiểm, xuất ly
thời thì Ta chưa tự nhận cùng thế giới gồm chư thiên, ma
vương, phạm thiên, các tầng lớp sa môn, bà la môn, trời
người là ta đã chứng ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.
-- Này chư Tỳ khưu, khi
đối với địa giới, thuỷ giới, hoả giới, phong giới
Ta
thật sự thấu triệt vị ngọt, nguy hiểm, xuất ly thời thì
Ta
tự nhận cùng thế giới gồm chư thiên, ma vương, phạm thiên,
các tầng lớp sa môn, bà la môn, trời người là
Ta
đã chứng ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Tri kiến
vả nhận thức
đã khởi lên ở nơi Ta: "Tâm
giải thoát của Ta
là bất động.
Ðời sống này là tối hậu,
giờ
không còn
luân hồi sanh tử
nữa".
Chú
Thích
Cũng như bài kinh trước, trong Phật ngôn của kinh nầy kể lại
sự quán chiếu thế giới vật chất – qua địa đại, thuỷ đại, hoả
đại, phong đại – mà Đức Bồ Tát đã trãi qua trước khi thành
đạo. Sự
quán chiếu nầy là một hành trình (acariṃ) chứ không phải chỉ
là ý nghĩa đột phát vớn sự thấy biết cặn kẻ toàn bộ (yāvatā)
chứ không phải đơn thuần dựa trên một góc cạnh. Qua
những gì được ghi lại trong Tam Tạng kinh điển thì sự viên
thành quả vị chánh đẳng chắng giác của tất cả chư Phật toàn
giác đều khởi đầu bằng sự quán chiếu vạn pháp một cách sâu
rộng và toàn diện. Trong lúc các vị thánh đệ tử có thể giác
ngộ bằng sự liễu ngộ đơn thuần qua một hiện tượng nào đó. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |