|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 07 tháng 08, 2023
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN II-PHẬT PHÁP
Bài 37- Hạnh Phúc Theo Phật Pháp- HẠNH PHÚC CHỦ QUAN VÀ KHÁCH QUAN.
Hạnh phúc là đề tài lớn và quan trọng trong Phật Pháp.
Có thể nói không sợ sai lầm là sự thực hành lời Phật dạy
không thể tách biệt với hạnh phúc. Nhưng cũng phải nhấn
mạnh điểm nầy là hạnh phúc theo Phật Pháp có nhiều thứ,
nhiều loại từ thấp đến cao, từ cái tầm thường đến hạnh
phúc tối thượng. Ngài Payutto làm một sưu tập về hạnh
phúc được tìm thấy trong Tam Tạng Pāli. Dưới đây là một
phần của bản liệt kê:
Bài
học ngày
10.7.2023
HẠNH PHÚC LÀ GÌ?
Để tạo hạnh phúc trước hết cần hiểu rõ ý nghĩa và giá
trị của hạnh phúc. Nói một cách ngắn gọn, hạnh phúc là
thành tựu ước muốn và nhu cầu được đáp ứng, hoặc nói
ngắn hơn,
là sự thoả mãn, như ý. Định nghĩa nầy không thể gọi là
hoàn toàn nhưng bao gồm ý nghĩa rộng lớn nhất.
Đây là định nghĩa về hạnh phúc mà phần đông chúng
sanh tự giới hạn. Đa số không cảm nhận hạnh phúc vượt
ngoài ý nghĩa nầy.
Muốn tắm rửa và và được tắm rửa khiến một người hạnh
phúc. Muốn ăn và được ăn khiến một ngoùi hạnh phúc. Một
đứa trẻ muốn vui đùa và được vui đùa là điều hạnh phúc.
Đây là sự thành tựu điều mong muốn và thoả mãn nhu cầu.
Trong lãnh vực ngôn ngữ thì ước muốn và nhu cầu là hai
điều khác nhau. Nhưng trong phạm vi của bài viết nầy thì
thỉnh thoảng được sử dụng như tương đồng.
Trong định nghĩa hạnh phúc là sự thoả mãn ý muốn, rất
cần thiết để định nghĩa bản chất tự nhiên của ý muốn. Ý
muốn là một đề tài rất rộng. Đức Phật dạy: “Tất cả
pháp bắt nguồn từ ý muốn (chandamūlaka sabbe dhammā)
(Tăng Chi Bộ I -
X, 58).
Điều nầy hàm nghĩa tất cả những gì con người thực hiện
đều khởi sự từ ý muốn.
Do vậy có hai điều cần thiết để đạt được hạnh phúc là:
Một là hiểu rõ bản chất tự nhiên của ý muốn. Hai là nếu
hạnh phúc là sự mãn nguyện thì cả hai ý muốn và hạnh
phúc đều cần sự vun bồi.
Sự mơ hồ và lầm lẫn về ý muốn cản trở con người thấy rõ
sự việc, không thể định hướng, và không giải quyết các
vấn đề một cách thiết thực. Một người không hiểu rõ mình
thật sự muốn gì thì không bao giờ có thể bắt tay tạo
dựng hạnh phúc một các cụ thể.
BẢN CHẤT VÀ SỰ QUAN TRỌNG CỦA Ý MUỐN
Thuật ngữ Phật học chỉ cho ý muốn là từ ngữ tế nhị cần
xác lập ý nghĩa rõ ràng. Chữ chanda có thể dịch là mong
muốn, ước nguyện, hy vọng. Trong từ ngữ Phật học Hán
Việt thì chanda có thể dịch là hy cầu, nguyện vọng, hoặc
ngắn gọn là dục.
Chữ chanda được dùng rất rộng rãi trong văn học Phạm ngữ
và Phật học. Kāmachanda là sự ham muốn dục lạc.
Nekkhammachanda là ước muốn ly dục; paribhogachanda là
ước muốn hưởng thụ; dhammachanda là pháp dục.
Trong kinh điển chữ chanda được chia thành hai:
1.
Khát dục (taṇhāchanda) là sự mong muốn đạt được, muốn
chiếm hữu, muốn trở thành, muốn huỷ diệt.
2.
Tác dục (kattukamyatā) là ý muốn hành động, ý muốn nhập
cuộc, ý muốn sáng tạo, ý muốn cải thiện, ý muốn học hỏi,
ý muốn tôi luyện, kể cả ý muốn tu tập.
Khát dục là pháp bất thiện (akusalachanda); tác dục là
thiện (kusalachanda) hoặc trung tính.
Nhưng cách dùng thường khi đòi hỏi sự tinh nghĩa vì
trong sự cách dùng cũng như dịch thuật thường có khuynh
hướng xem dục là tiêu cực nên có những từ ly dục, diệt
dục… trong lúc chanda mang cả hai ý nghĩa tích cực cũng
như tiêu cực.
Những nhà Sớ Giải thường sử dụng chữ patthanā – hy cầu,
ước nguyện để có vẻ trung lập hơn nhưng rồi cũng rơi vào
trường hợp chữ chanda vì cũng tạo nên hai thuật ngữ:
Taṇhāchanda (ái trước) và chandapatthanā (hoài bảo). Đây
là trường hợp “mèo lại hoàn mèo”.
Nên lưu ý có nhiều Phật tử khi nói đến “dục” thì mặc
nhiên xem đó là tiêu cực, là điều cần phải tránh, phải
diệt. Trong
lúc nói đến “nguyện” thì mặc nhiên xem là tốt. Kỳ thật
thì dục và nguyện đều có thể dùng để dịch chữ chanda.
Bài
học ngày
17.7.2023
HỶ VÀ LẠC
Trong phân tích rõ nét hơn về hạnh phúc, Phật pháp dạy
về hỷ (pīti) và lạc (sukha). Như đã đề cập, hạnh phúc
được hiểu là sự mãn nguyện hay ước vọng được thành tựu.
Từ ước vọng đến sự thành tựu có một trạng thái cần được
biết tới là hỷ (pīti) hay sự hân hoan. Trạng thái nầy có
thể lầm lẫn với hạnh phúc (sukha - lạc) mà cũng có thể
lầm lẫn với sự mong muốn. Trong Tam Tạng và Sớ giải
thường dùng thí dụ sau đây để phân biệt ước muốn, hân
hoan, và hạnh phúc (thuật ngữ gọi là dục, hỷ, và lạc)
Như một người hành trình giữa sa mạc đã cạn nước dự trữ
mang theo đang bị cơn khát hoành hành. Bấy giờ mong ước
tìm được nước và cố gắng đi tới. Đến một lúc nhìn thấy
một ốc đảo từ xa với những cây xanh biết là đó là nơi có
thể tìm thấy nước. Mặc dù kiệt sức nhưng do biết được
sắp có nước nên tâm trên nên hăng hái và thân như có
thêm sinh lực để đi tới. Cuối cùng người lữ hành đang bị
khô khát đã đến được ốc đảo và trầm mình trong hồ nước
cũng như uống nước thoả mãn sự nóng khát.
Hết nước và nóng khát nên mong mỏi tìm được nước là dục
(chanda). Thấy ốc đảo từ xa biết là sắp có nước nên lòng
sung sướng là hỷ (pīti). Trạng thái thoả mãn khi uống
nước và ngâm mình trong hồ không còn bị nóng khác bức
bách là lạc (sukha).
Cần hiểu là ước muốn chỉ là hy vọng có thể là ảo vọng
như một người ao ước được trúng số độc đắt để trở nên
giàu có. Hy vọng có thể định hướng cuộc sống nhưng cũng
có thể là hoang tưởng thiếu thực tế. Một số các tôn giáo
thường nói đến “thiên đường mai sau” hay “vườn địa đàng
được tái tạo” như là niềm hy vọng tối hậu cho cuộc sống.
Sự hân hoan hay hỷ là thứ hạnh phúc chân thực vì ý muốn
sắp hiện thực với cơ sở đủ rõ ràng. Điều nầy có phần gần
với “sự hưởng thụ quá trình”. Như một người thích ăn tết
trong lúc dọn dẹp trang trí nhà cửa, mua sắm hoa trái,
nấu nướng thức ăn… với niềm vui đón tết.
Hỷ hay sự hân hoan thật sự theo Phật pháp là
trạng thái dẫn tới sự lắng dịu những bồn chồn, nghi
hoặc, căng thẳng do khát vọng tạo nên. Sự lắng dịu nầy
Phật pháp gọi là passaddhi – an tịnh.
Trong rất nhiều mô tả trong kinh điển thì sự an tịnh là
cầu nối giữa hỷ và lạc. “có giao động thì không có khinh
an; trái lại sự an tịnh tạo nên khinh an”. Sự mong ước
hay khát vọng thường tạo nên những hoang mang, lo lắng,
căng thẳng, giao động. Có khi do do quá mong muốn tạo
nên những bắt buộc, miễn cưỡng nội tại và đánh mất sự
thanh thanh thản. Sự an tịnh thực sự khi những trạng
thái tiêu cực được thay thế bằng trạng thái lành mạnh.
Niềm hy vọng có thể là động lực cho cuộc sống mà cũng có
thể tạo nên sự thất vọng to lớn. Điều nầy dẫn tới sự
buồn nãn, đau khổ hơn là hạnh phúc. Cần phân biệt ước
vọng (chanda) lành mạnh là sự hy vọng đi với hiểu biết
trong lúc sự khát ái (taṇhā) chỉ là khao khác hưởng thụ
hay chiếm hữu. Như một người bỏ việc làm đi ăn nhậu với
bạn bè đó là taṇhā chứ không phải chanda.
Cũng nên hiểu thêm về một khía cạnh quan trọng của lạc
là sự an tịnh (santi). Đây là trạng thái hoàn toàn thoả
mãn không còn những “lấn cấn”. Thí dụ một người ao ước
có được một chiếc xe đắt tiền. Khi có được thì nhận ra
chi phí bảo trì quá cao, tiền bảo hiểm là khoản tiền
lớn, đi đâu cũng lo sợ bị cọ quẹt.. Hạnh phúc không trọn
vẹn không có sự an tịnh.
Bài
học ngày
24.7.2023
TÁNH PHỨC TẠP TRONG MƯU CẦU HẠNH PHÚC
Con đường dẫn tới hạnh phúc, dù là xuất thế hay hiệp
thế, thì đều pha lẫn giữa áp lực và sự thoả mãn; giữa
thành công và thất bại; giữa cái cái có được và gánh
nặng đeo mang. Một người có trí luôn ý thức rõ là không
thể chỉ có hạnh phúc mà không có cái giá phải trả mà cái
gì đạt được đều gồm “trọn gói”.
Thái độ cầu toàn giữa cuộc sống bất toàn thường tạo nên
thất vọng. Một trong những khía cạnh quan trọng trọng
của ước muốn là mong có được cái hoàn hảo như ý. Mua một
chiếc xe, theo đuổi một sở thích, kết hôn với người bạn
đời… thường đi với ý muốn là tất cả phải tốt như mình
mong mỏi. Nhưng sự bất toàn cuộc thực tế khiến chúng ta
thất vọng. Không phải sự buồn nãn vì xui xẻo mà vì ước
vọng không thực tế. Không có cái gọi là hoàn hảo trong
những gì theo đuổi trong cuộc sống nầy. Ngày nay có
những phong trào hướng về một môi trường sinh thái lành
mạnh hay sự bình đẳng giới tính thường tạo nên những mục
tiêu thiếu thực tế. Cuộc sống thường cần tánh quân bình
hơn là nghiêng về một bên.
Nếu hạnh phúc được định nghĩa là mãn nguyện những gì
mong ước thì nên nhìn ngược lại chính sự mong ước tạo
nên áp lực, căng thẳng, nghi hoặc trong cuộc sống. Quá
mong muốn cái gì thường tạo nên những xáo trộn tâm lý.
Thí dụ một người mẹ quá kỳ vọng ở đứa con học hành đỗ
đạt thường tạo nên nhiều căng thẳng trong việc vai trò
của người mẹ lo cho con. Đa số những âu lo đến từ ước
muốn mãnh liệt kể cả sự tha thiết có cuộc sống bình yên.
Nếu ước muốn cái hoàn hảo là một cực đoan thì đích điểm
tối hậu là một cực đoan khác trong mưu cầu hạnh phúc.
Người ta mua một điện thoại thông minh hay một chiếc xe
đắt tiền với nghĩ là những thứ đó sẽ là “sản phẩm không
một gì khác vượt qua được như một quảng cáo của hãng xe
BMW có câu “Ultimate Driving Machine”. Thực tế thì tất
cả hạnh phúc của trần gian chỉ là giai đoạn và mang giá
trị rất tương đối. Một cái gì đó có thể là “tốt nhất”
trong dự tính nhưng khi có được thì giá trị có thể sớm
lỗi thời khi có cái tốt hơn xuất hiện. Ngay cả cảm hứng
và hạnh phúc đối với những thứ đó của sớm mai một.
Người ta có câu “cứu cánh biện minh cho phương tiện”.
Không may là đa số những thành tựu trong cuộc sống phải
trả bằng giá quá đắt. Thí dụ một người cật lực làm việc
để có số tiền sống thoải mái khi về già nhưng do làm
việc quá nhiều khi về hưu thì sức khoẻ suy yếu. Trong sự
già nua bệnh tật thường khi đồng tiền trở nên vô nghĩa.
Trái lại khi còn trẻ tiêu xài nhiều để ăn chơi khi về
già lâm vào cảnh túng thiếu thì cũng không phải là lối
sống tốt. Nếu cuộc sống là hành trình thì mỗi ngày đều
có giá trị riêng. Sống tất cả vì tương lai mà không cho
phép những giây phút hiện tại an lạc thì thường khi là
lối sống “thả mồi bắt bóng”.
Nói đến tính cách phức tạp của hạnh phúc, một lần nữa
cần nhắc lại tinh thần trung đạo trong Phật pháp. “Nhân
vô viễn lự tất hữu cận ưu” nhưng lo xa quá mà đánh mất
hiện tại thì cũng là cực đoan. Mong cái tốt nhất nhưng
cũng nên nhắc sự tương đối để không tạo thất vọng lớn.
Sống với hy vọng khiến con người hăng hái nhưng sự kỳ
vọng cũng tạo nên căng thẳng, áp lực, thậm chí là sự
thất vọng lớn lao. Khả năng sống như nhiên (yathābhutam)
song hành với chí hướng là điều cần thiết để tạo nên
tinh thần trung đạo.
ƯỚC MUỐN HIỀN THIỆN
Hạnh phúc được hiểu là thành tựu được ước nguyện.
Những mong mỏi chấp ngã, ích kỷ thường tạo nhiều
phiền não, đau khổ hơn là thanh thản, an lạc. Đức Phật
dạy sự huân tu bốn phạm trú là từ, bi, hỷ, xả là những
ước nguyện tốt lành đối với tha nhân mà cũng tạo nên sự
quân bình tâm lý cho chính mình.
Bốn phạm trú hay tứ vô lượng tâm là sự “đơn phương” sống
hoà bình với muôn loại chúng sanh. Dù bất kể hoàn cảnh
nào cũng có thể huân tập được.
Bốn phạm trú cũng là cách sống an ổn “vô điều kiện” mà
chúng sanh ít khi biết được. Người ta thường tự định đặt
những điều kiện phải thế nầy mới dễ thương, phải thế kia
mới đáng trắc ẩn… Một khi từ, bi, hỷ, xả được huân tập
tương đối lớn mạnh thì sẽ giảm đi sự đòi hỏi và là một
trãi nghiệm quan trọng về thứ hạnh phúc vô điều kiện.
Tâm từ (mettā) là sự hoà ái trong bối cảnh bình thường.
Tâm từ là sự mong mỏi tha nhân được an lạc. Đó là trạng
thái thân thiện, hoà dịu, mát mẽ.
Tâm bi (karuṇā) là sự mong mỏi chúng sanh đang đau khổ
được hết khổ. Đó là trạng thái cảm thông, trắc ẩn.
Tâm hỷ (muditā) là sự hân hoan chân thành đối với hạnh
phúc của tha nhân. Đó là tâm lượng bao la hạnh phúc khi
thấy tha nhân hạnh phúc.
Tâm xả (upekkhā) là khả năng tự chế không can thiệp để
người khác có thể tự mình trưởng thành. Đây là sự quân
bình tế nhị. Ngài Payutto thí dụ như người mẹ thương con
khi con chập chững bước đi phải chấp nhận cho con té
đau. Vì con cần học tự mình đứng dậy để đi bằng sự cố
gắng của chính mình.
Với bốn vô lượng tâm kể trên thì “ước muốn – chanda”
được hiểu là:
1.
Sự mong mỏi chúng sanh được vui.
2.
Sự mong mỏi chúng sanh thoát khổ
3.
Sự mong mỏi chúng sanh được tăng tiến
4.
Sự mong mỏi chúng sanh được tự mình trưởng thành
Cả bốn trạng thái tuy khác biệt nhưng đều cần có như
nhau. Thiếu một trong bốn thì những thứ kia khó phát
triển. Như trường hợp một số người nhiều lòng trắc ẩn
khi thấy người khác hoạn nạn nhưng khi cơn hoạn nạn qua
rồi thì ganh tị với những gì người khác có.
Bốn vô lượng tâm là pháp tu có tác dụng giảm thiểu sự
ích kỷ, vô tâm, đố kỵ, giao động là những thức tạo nên
phiền não, khổ luỵ từ ước muốn mà ra.
HẠNH PHÚC CHỦ QUAN VÀ KHÁCH QUAN
Có những hạnh phúc đến từ quan niệm cá nhân tạm gọi là
hạnh phúc chủ quan. Nhưng Phật Pháp cũng ghi nhận có
những hạnh phúc đến từ bản chất hay tự tánh riêng mà ta
co thể tạm gọi là hạnh phúc khách quan. Hai khía cạnh
nầy trở nên rất tế nhị khi đề cập đến “nhận thức như
nhiên – yathābhātaṃ”.
Hạnh phúc khách quan có thể được ghi nhận qua một số
trường hợp sau:
a.
Hạnh phúc đến từ thiên nhiên. Rất nhiều ghi nhận trong
kinh điển cho thấy Đức Phật vầ chư vị a la hán tán thán
hạnh phúc của của núi rừng như vườn
Gosiṅgasāla
trong đêm rằm (Trung Bộ I. 212). Hay câu kinh Pháp Cú:
Khả ái thay núi rừng…
b.
Hạnh phúc đến từ sự hài hoà, thân thiện trong quan hệ
giữa con người với con người như câu hỏi của Đức Phật
đối với tôn giả Anuruddha: - Này Anuruddha, các Thầy có
sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau. Như
nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm
không? (Trung Bộ III. Kinh Tuỳ Phiền não)
c.
Hạnh phúc đến từ nếp sống lương hảo "Có bốn loại hạnh
phúc vật chất mà người tại gia cư sĩ có thể thọ hưởng,
thỉnh thoảng và tùy cơ hội, là: hạnh phúc được có vật sở
hữu (atthisukha), hạnh phúc được có tài sản
(bhogasukha), hạnh phúc không nợ nần (ananasukha), và
hạnh phúc không bị khiển trách (anavajjasukha).
'Hạnh phúc được có sở hữu là gì?'
"Là hạnh phúc của người kia đã tạo nên tài sản do nhờ nỗ
lực cố gắng, nhờ sức lao động chân tay và mồ hôi nước
mắt, thâu thập và thọ lãnh một cách hợp pháp. Khi nghĩ
rằng tài sản này ta đã tạo nên do nhờ sự nỗ lực cố gắng,
thâu thập và thọ lãnh hợp pháp, người kia cảm thấy thỏa
thích và mãn nguyện. Đó là hạnh phúc được có vật sở hữu.
'Hạnh phúc được có tài sản là gì?'
"Là hạnh phúc của người kia đã tạo tài sản do nhờ nỗ lực
cố gắng. Giờ đây chính mình thọ hưởng tài sản ấy, hoặc
dùng của ấy để gieo phước. Khi nghĩ rằng nhờ tài sản đã
tạo nên nay chính ta thọ hưởng và gieo thêm phước, người
kia cảm thấy thỏa thích và mãn nguyện. Đó là hạnh phúc
được có tài sản.
'Hạnh phúc không mang nợ là gì?'
"Là hạnh phúc của người kia không thiếu ai món nợ nhỏ nợ
lớn nào. Khi nghĩ rằng ta không thiếu ai món nợ nhỏ lớn
nào, người kia cảm thấy thỏa thích và mãn nguyện. Đó gọi
là hạnh phúc không mang nợ.
'Hạnh phúc không bị khiển trách là gì?'
"Là hạnh phúc của bậc thánh nhân trong sạch, không có gì
để bận tâm hối cải, không có gì đáng bị phiền trách về
tư tưởng. Không nghĩ rằng mình thọ hưởng hạnh phúc,
không có gì đáng bị khiển trách về hành động, không có
gì đáng bị khiển trách về lời nói và không có gì đáng bị
khiển trách về tư tưởng, bậc thánh nhân cảm thấy hoan
hỷ. Đó là hạnh phúc không bị khiển trách.
"Thành tựu hạnh phúc không mang nợ.
(Tăng Chi Bộ II. Trích từ quyển Đức Phật và Phật Pháp –
Narada - bản dịch của Phạm Kim Khánh).
Một số dẫn chứng trên cho thấy hạnh phúc được đề cập
trong Phật Pháp không hẳn chỉ đến từ cái nhìn chủ quan
của mỗi cá nhân mà có những trường hợp do bản chất khách
quan của cuộc sống. Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng |