BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 15 tháng 08, 2023

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

Xin lưu ý: Bài kinh mang số 123 Kinh Sa Môn, Bà La Môn III (Tatiyasamaṇabrāhmaṇasuttaṃ) Tập II – Thiên Nhân Duyên -Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên – Tương Ưng Giới – Phẩm Thứ Tư (S.ii, 176) có nội dung giống 2 bài kinh cùng tên trước đó chỉ có thêm chi tiết là quán tứ đại theo tứ đế: thế nào là địa đại, thuỷ đại, hoả đại, phong đại; nhân tập khởi của tứ đại; sự chấm dứt tứ đại; con đường dẫn đến chấm dứt bốn đại. Do sự trùng lập của ý nghĩa nên chuyển sang phẩm Tương Ưng Vô Thỉ với bài kinh mang số 124.

Tập II – Thiên Nhân Duyên. Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ – Phẩm Thứ Nhất (S.ii, 178).

Bài 124. Quá Đủ Để Nhàm Chán Cuộc Tử Sinh. Kinh Cỏ Cây (Tiṇakaṭṭhasuttaṃ).

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 

Có những trẻ con vui chơi trong lúc dừng chân nhất thời trong cuộc hành trình gian khổ. Chúng ta thường thích thú giữa cuộc tử sanh vì không thấu rõ hành trình diệu vợi của sanh tử trầm luân từ vô thủy. Đức Phật dạy rõ không có sự cân, đo, đong, đếm nào có thể nói hết đau khổ của cuộc luân hồi. Phải có cái nhìn rộng để khởi tâm nhàm chán và có khả năng buông bỏ những gì lập đi, lập lại không lối thoát.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –

Tôi được nghe như vầy,

Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthi (Xá Vệ), tại Jetavana (Kỳ Viên), ngôi già lam do ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) dâng cúng. Bấy giờ Đức Thế Tôn lên tiếng: “Này chư Tỳ Khưu”. Chư tỳ khưu trả lời; “Dạ, Bạch Thế Tôn”

Đức Thế Tôn dạy rằng:

‘‘Anamataggoyaṃ bhikkhave, saṃsāro. Pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṃ sattānaṃ taṇhāsaṃyojanānaṃ sandhāvataṃ saṃsarataṃ. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso yaṃ imasmiṃ jambudīpe tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṃ taṃ chetvā ekajjhaṃ saṃharitvā caturaṅgulaṃ caturaṅgulaṃ ghaṭikaṃ katvā nikkhipeyya – ‘ayaṃ me mātā, tassā me mātu ayaṃ mātā’ti, apariyādinnāva bhikkhave, tassa purisassa mātumātaro assu, atha imasmiṃ jambudīpe tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṃ parikkhayaṃ pariyādānaṃ gaccheyya. Taṃ kissa hetu? Anamataggoyaṃ, bhikkhave, saṃsāro. Pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṃ sattānaṃ taṇhāsaṃyojanānaṃ sandhāvataṃ saṃsarataṃ. Evaṃ dīgharattaṃ vo, bhikkhave, dukkhaṃ paccanubhūtaṃ tibbaṃ paccanubhūtaṃ byasanaṃ paccanubhūtaṃ, kaṭasī vaḍḍhitā. Yāvañcidaṃ, bhikkhave, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṃ alaṃ virajjituṃ alaṃ vimuccitu’’nti.

-- Này chư Tỳ Khưu, cuộc trầm luân là vô thủy. Không thể nêu rõ khởi điểm đối với luân hồi sanh tử đối với chúng sanh bị vô minh bao phủ, ái dục buộc ràng. Ví như một người chặt, cắt tất cả những lá cỏ, nhành cây trong cõi Diêm Phù Đề này gom lại thành một đống lớn. Rồi đặt xuống thành từng nhánh nhỏ bảo rằng: Đây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi”. Cứ thế tiếp tục không bao giờ hết những nối tiếp từ bà mẹ trước những bà mẹ và những nhánh cỏ, nhành cây cũng không bao giờ cạn kiệt. Tại sao vậy? Vì cuộc trầm luân là vô thủy. Không thể nêu rõ khởi điểm đối với luân hồi sanh tử đối với chúng sanh bị vô minh bao phủ, ái dục buộc ràng.

Tương tự như vậy, này chư Tỳ khưu, diệu vợi là luân hồi. Các Thầy đã chịu không biết bao nhiêu là khổ đau, hiểm nạn, rồi những mộ phần mỗi lúc nhiều thêm. Đã quá đủ để nhàm chán, quá đủ để buông bỏ, quá đủ để giải thoát khỏi pháp hữu vi.

Chú Thích

Khái niệm về “thời gian vô cùng, không gian vô tận” ngày nay loài người càng nhận ra khi biết về sự tồn tại CỦA HƠN  200 tỷ thiên hà trong vũ trụ. Đi tìm điểm khởi thuỷ là điều bất khả.

 Jambudı̄pa – Diêm Phù Đề - thường được dùng trong văn học Phạm ngữ, và cũng trong Phật Pháp, chỉ cho ba khái niệm không gian: A. Nam Thiện Bộ Châu một trong bốn châu quanh núi Tu Di. B. Chỉ cho đại lục Ấn Độ. C. Chỉ cho đại địa mênh mông loài người đang sống nơi mà Đức Thế Tôn giảng pháp.

Thuật ngữ saṃsāra – luân hồi - ở đây được Sớ giải định nghĩa là dòng sinh diệt không gián đoạn của các uẩn (khandhādīnaṃ avicchinnappavattāpaṭipāṭi).

Câu Phật ngôn “Anamataggo ’yaṃ bhikkhave saṃsāro - Này chư Tỳ Khưu, cuộc trầm luân là vô thủy” được Sớ Giải chú thích là “vassasataṃ vassasahassaṃ ñāṇena anugantvā pi amataggo aviditaggo – dù với (thắng) trí truy nguyên hằng trăm, hằng ngàn kiếp cũng không thể tìm ra đầu mối của sanh tử, khởi nguyên của luân hồi”.

 

Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.

-ooOoo-