|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 16 tháng 08, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 125 & 126. HÀNH TRÌNH DIỆU VỢI, KHỔ ĐAU KHÔN CÙNG. Kinh Trái Đất (Pathavīsuttaṃ)
Bài
kinh nầy ý nghĩa tương tự bài kinh trước – Kinh Cỏ Cây- chỉ
khác là dụ ngôn nầy nói về cha thay vì mẹ với thí dụ những
viên đất nhỏ tạo thành từ địa cầu. Chỉ dịch cho đầy đủ với
bản chánh kinh.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘anamataggoyaṃ, bhikkhave,
saṃsāro. Pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṃ sattānaṃ
taṇhāsaṃyojanānaṃ sandhāvataṃ saṃsarataṃ. Seyyathāpi,
bhikkhave, puriso imaṃ mahāpathaviṃ kolaṭṭhimattaṃ
kolaṭṭhimattaṃ mattikāguḷikaṃ karitvā nikkhipeyya – ‘ayaṃ me
pitā, tassa me pitu ayaṃ pitā’ti, apariyādinnāva bhikkhave,
tassa purisassa pitupitaro assu, athāyaṃ mahāpathavī
parikkhayaṃ pariyādānaṃ gaccheyya. Taṃ kissa hetu?
Anamataggoyaṃ, bhikkhave, saṃsāro. Pubbā koṭi na paññāyati
avijjānīvaraṇānaṃ sattānaṃ taṇhāsaṃyojanānaṃ sandhāvataṃ
saṃsarataṃ. Evaṃ dīgharattaṃ vo, bhikkhave, dukkhaṃ
paccanubhūtaṃ tibbaṃ paccanubhūtaṃ byasanaṃ paccanubhūtaṃ,
kaṭasī vaḍḍhitā. Yāvañcidaṃ, bhikkhave, alameva
sabbasaṅkhāresu nibbindituṃ, alaṃ virajjituṃ, alaṃ
vimuccitu’’nti.
Ngự ở Sāvatthi.
--
Này chư Tỳ Khưu,
cuộc trầm luân là vô thủy. Không thể nêu rõ khởi điểm đối
với luân hồi sanh tử đối với chúng sanh bị vô minh bao phủ,
ái dục buộc ràng. Ví như một người từ trái đất lớn nầy nặn
(tất cả) thành những viên đất nhỏ bằng hạt táo rồi đặt xuống
đất nói rằng: Đây là cha ta, đây là cha của cha ta và cứ thế
tiếp tục không bao giờ hết và đất không đi đến chỗ cạn kiệt.
Tại sao vậy? Vì cuộc trầm luân là vô thủy. Không thể
nêu rõ khởi điểm đối với luân hồi sanh tử đối với chúng sanh
bị vô minh bao phủ, ái dục buộc ràng.
Này chư Tỳ khưu, diệu vợi là luân hồi. Các Thầy đã chịu
không biết bao nhiêu là khổ đau, hiểm nạn, rồi những mộ phần
mỗi lúc nhiều thêm. Đã quá đủ để nhàm chán, quá đủ để buông
bỏ, quá đủ để giải thoát khỏi pháp hữu vi. Bài 126. Kinh Những Giọt Lệ (Assusuttaṃ)
Tập II – Thiên Nhân Duyên
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘anamataggoyaṃ, bhikkhave,
saṃsāro. Pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṃ sattānaṃ
taṇhāsaṃyojanānaṃ sandhāvataṃ saṃsarataṃ. Taṃ kiṃ maññatha,
bhikkhave, katamaṃ nu kho bahutaraṃ, yaṃ vā vo iminā dīghena
addhunā sandhāvataṃ saṃsarataṃ amanāpasampayogā
manāpavippayogā kandantānaṃ rodantānaṃ
assu passannaṃ paggharitaṃ, yaṃ vā
catūsu mahāsamuddesu udaka’’nti? ‘‘Yathā kho mayaṃ,
bhante, bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāma, etadeva, bhante,
bahutaraṃ yaṃ no iminā dīghena addhunā sandhāvataṃ
saṃsarataṃ amanāpasampayogā manāpavippayogā kandantānaṃ
rodantānaṃ assu passannaṃ paggharitaṃ, na tveva catūsu
mahāsamuddesu udaka’’nti.
... Ngự ở Sāvatthi.
--
Này chư Tỳ Khưu,
cuộc trầm luân là vô thủy. Không thể nêu rõ khởi điểm đối
với luân hồi sanh tử đối với chúng sanh bị vô minh bao phủ,
ái dục buộc ràng.
--
Này chư Tỳ Khưu,
các Thầy nghĩ thế nào khi so sánh nước trong bốn biển với
nước mắt mà các Thầy đã tuôn rơi vì than khóc do phải chịu
với cái mình không thích và phải xa cách cái mình yêu quý
trong thời gian dài luân hồi sanh tử?
-- Bạch Đức
Thế Tôn, theo như lời
Ngài giảng dạy chúng con hiểu rằng nước mắt mà chúng con đã tuôn rơi vì than khóc do phải chịu
đựng với cái mình không thích và phải xa cách cái mình yêu
quý trong thời gian dài luân hồi sanh tử thật sự nhiều hơn
nước trong bốn biển.
‘‘Sādhu sādhu, bhikkhave, sādhu kho me tumhe, bhikkhave,
evaṃ dhammaṃ desitaṃ ājānātha. Etadeva, bhikkhave, bahutaraṃ
yaṃ vo iminā dīghena addhunā sandhāvataṃ saṃsarataṃ
amanāpasampayogā manāpavippayogā kandantānaṃ rodantānaṃ assu
passannaṃ paggharitaṃ, na tveva catūsu mahāsamuddesu udakaṃ.
Dīgharattaṃ vo, bhikkhave, mātumaraṇaṃ paccanubhūtaṃ; tesaṃ
vā mātumaraṇaṃ paccanubhontānaṃ amanāpasampayogā
manāpavippayogā kandantānaṃ rodantānaṃ assu passannaṃ
paggharitaṃ, na tveva catūsu mahāsamuddesu udakaṃ.
Dīgharattaṃ vo, bhikkhave, pitumaraṇaṃ paccanubhūtaṃ
...pe... bhātumaraṇaṃ paccanubhūtaṃ... bhaginimaraṇaṃ
paccanubhūtaṃ... puttamaraṇaṃ paccanubhūtaṃ... dhītumaraṇaṃ
paccanubhūtaṃ... ñātibyasanaṃ paccanubhūtaṃ... bhogabyasanaṃ
paccanubhūtaṃ. Dīgharattaṃ vo, bhikkhave, rogabyasanaṃ
paccanubhūtaṃ, tesaṃ vo rogabyasanaṃ paccanubhontānaṃ
amanāpasampayogā manāpavippayogā kandantānaṃ rodantānaṃ assu
passannaṃ paggharitaṃ, na tveva catūsu mahāsamuddesu udakaṃ.
Taṃ kissa hetu? Anamataggoyaṃ, bhikkhave, saṃsāro ...pe...
yāvañcidaṃ, bhikkhave, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṃ,
alaṃ virajjituṃ, alaṃ vimuccitu’’nti.
-- Lành thay, lành thay, này
chư Tỳ Khưu,
như vậy là các
Thầy lãnh hội được điều ta giảng dạy.
Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp
do Ta dạy!
Nước mắt mà các Thầy đã tuôn rơi vì than khóc do phải gần
với cái mình không thích và phải xa cách cái mình yêu quý
trong thời gian dài luân hồi sanh tử thật sự nhiều hơn nước
trong bốn biển.
Này chư Tỳ Khưu,
Nước mắt mà các Thầy đã tuôn rơi vì than khóc vì cha chết… Nước mắt mà các Thầy đã tuôn rơi vì than khóc vì anh em chết.. Nước mắt mà các Thầy đã tuôn rơi vì than khóc vì chị em chết… Nước mắt mà các Thầy đã tuôn rơi vì than khóc vì con trai chết… Nước mắt mà các Thầy đã tuôn rơi vì than khóc vì con gái chết… Nước mắt mà các Thầy đã tuôn rơi vì than khóc vì thân quyến chết… Nước mắt mà các Thầy đã tuôn rơi vì than khóc vì mất mát tài sản… Nước mắt mà các Thầy đã tuôn rơi vì than khóc vì bệnh tật…
Nước mắt mà các Thầy đã tuôn rơi vì than khóc do phải chịu
đựng với cái mình không thích và phải xa cách cái mình yêu
quý trong thời gian dài luân hồi sanh tử thật sự nhiều hơn
nước trong bốn biển.
Tại sao vậy? Vì cuộc trầm luân là vô thủy. Không thể nêu rõ
khởi điểm đối với luân hồi sanh tử đối với chúng sanh bị vô
minh bao phủ, ái dục buộc ràng.
Tương tự như vậy, này chư Tỳ khưu, diệu vợi là luân hồi. Các
Thầy đã chịu không biết bao nhiêu là khổ đau, hiểm nạn, rồi
những mộ phần mỗi lúc nhiều thêm. Đã quá đủ để nhàm chán,
quá đủ để buông bỏ, quá đủ để giải thoát khỏi pháp hữu vi.
Chú Thích Có sự
khác biệt lớn trong cách mô tả về vũ trụ quan giữa chánh
tạng và các bản Sớ giải.
Một số những chú thích của Sớ giải ảnh hưởng bởi kiến thức
thông thường của văn hoá Ấn. Trong lúc chánh tạng không có
những “hạt sạn” trong mô tả về thế giới. Chánh Tạng có những
mô tả về vũ trụ mà mãi cho đến thế kỷ 16 thì khoa học của Âu
châu bắt đầu nhận ra. Sau đây là một số thí dụ. Chánh tạng
nêu rõ trái đất không phải là trung tâm của vũ trụ. Trái đất
có tuổi thọ hạn định chứ không vĩnh hằng. Những thiên thể
vận hành trong vũ trụ đi theo hành trình được gọi là “quỹ
đạo”. Quả đất là một thực thể có thể tích giới hạn. Cụm từ
“nước trong bốn biển - catūsu mahāsamuddesu udaka” không xa
lạ với con người ngày nay nhưng với người cổ đại thì như câu
chuyện thần thoại (do vậy phần Sớ giải bài kinh nầy không
được dịch). Câu
“Phật xưa rằng nước đại dương, ít hơn nước mắt sầu thương
của người” (thơ của Pháp sư Giác Chánh) không phải là hình
ảnh ví von mà mang ý nghĩa hiện thực. Đất của địa cầu có thể
lượng định bằng con số vì hữu hạn (…) trong lúc nước mắt đã
khóc trong vô lượng kiếp của của hành trình sanh tử vô hạn.
Cái vô hạnh phải nhiều hơn cái hữu hạn,
Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |