|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 20 tháng 08, 2023
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN II-PHẬT PHÁP
Bài 37- Hạnh Phúc Theo Phật Pháp- HIỂU BIẾT VỀ NHỮNG THỨ HẠNH PHÚC.
Hạnh phúc là đề tài lớn và quan trọng trong Phật Pháp.
Có thể nói không sợ sai lầm là sự thực hành lời Phật dạy
không thể tách biệt với hạnh phúc. Nhưng cũng phải nhấn
mạnh điểm nầy là hạnh phúc theo Phật Pháp có nhiều thứ,
nhiều loại từ thấp đến cao, từ cái tầm thường đến hạnh
phúc tối thượng. Ngài Payutto làm một sưu tập về hạnh
phúc được tìm thấy trong Tam Tạng Pāli. Dưới đây là một
phần của bản liệt kê:
Bài
học ngày
10.7.2023
HẠNH PHÚC LÀ GÌ?
Để tạo hạnh phúc trước hết cần hiểu rõ ý nghĩa và giá
trị của hạnh phúc. Nói một cách ngắn gọn, hạnh phúc là
thành tựu ước muốn và nhu cầu được đáp ứng, hoặc nói
ngắn hơn,
là sự thoả mãn, như ý. Định nghĩa nầy không thể gọi là
hoàn toàn nhưng bao gồm ý nghĩa rộng lớn nhất.
Đây là định nghĩa về hạnh phúc mà phần đông chúng
sanh tự giới hạn. Đa số không cảm nhận hạnh phúc vượt
ngoài ý nghĩa nầy.
Muốn tắm rửa và và được tắm rửa khiến một người hạnh
phúc. Muốn ăn và được ăn khiến một ngoùi hạnh phúc. Một
đứa trẻ muốn vui đùa và được vui đùa là điều hạnh phúc.
Đây là sự thành tựu điều mong muốn và thoả mãn nhu cầu.
Trong lãnh vực ngôn ngữ thì ước muốn và nhu cầu là hai
điều khác nhau. Nhưng trong phạm vi của bài viết nầy thì
thỉnh thoảng được sử dụng như tương đồng.
Trong định nghĩa hạnh phúc là sự thoả mãn ý muốn, rất
cần thiết để định nghĩa bản chất tự nhiên của ý muốn. Ý
muốn là một đề tài rất rộng. Đức Phật dạy: “Tất cả
pháp bắt nguồn từ ý muốn (chandamūlaka sabbe dhammā)
(Tăng Chi Bộ I -
X, 58).
Điều nầy hàm nghĩa tất cả những gì con người thực hiện
đều khởi sự từ ý muốn.
Do vậy có hai điều cần thiết để đạt được hạnh phúc là:
Một là hiểu rõ bản chất tự nhiên của ý muốn. Hai là nếu
hạnh phúc là sự mãn nguyện thì cả hai ý muốn và hạnh
phúc đều cần sự vun bồi.
Sự mơ hồ và lầm lẫn về ý muốn cản trở con người thấy rõ
sự việc, không thể định hướng, và không giải quyết các
vấn đề một cách thiết thực. Một người không hiểu rõ mình
thật sự muốn gì thì không bao giờ có thể bắt tay tạo
dựng hạnh phúc một các cụ thể.
BẢN CHẤT VÀ SỰ QUAN TRỌNG CỦA Ý MUỐN
Thuật ngữ Phật học chỉ cho ý muốn là từ ngữ tế nhị cần
xác lập ý nghĩa rõ ràng. Chữ chanda có thể dịch là mong
muốn, ước nguyện, hy vọng. Trong từ ngữ Phật học Hán
Việt thì chanda có thể dịch là hy cầu, nguyện vọng, hoặc
ngắn gọn là dục.
Chữ chanda được dùng rất rộng rãi trong văn học Phạm ngữ
và Phật học. Kāmachanda là sự ham muốn dục lạc.
Nekkhammachanda là ước muốn ly dục; paribhogachanda là
ước muốn hưởng thụ; dhammachanda là pháp dục.
Trong kinh điển chữ chanda được chia thành hai:
1.
Khát dục (taṇhāchanda) là sự mong muốn đạt được, muốn
chiếm hữu, muốn trở thành, muốn huỷ diệt.
2.
Tác dục (kattukamyatā) là ý muốn hành động, ý muốn nhập
cuộc, ý muốn sáng tạo, ý muốn cải thiện, ý muốn học hỏi,
ý muốn tôi luyện, kể cả ý muốn tu tập.
Khát dục là pháp bất thiện (akusalachanda); tác dục là
thiện (kusalachanda) hoặc trung tính.
Nhưng cách dùng thường khi đòi hỏi sự tinh nghĩa vì
trong sự cách dùng cũng như dịch thuật thường có khuynh
hướng xem dục là tiêu cực nên có những từ ly dục, diệt
dục… trong lúc chanda mang cả hai ý nghĩa tích cực cũng
như tiêu cực.
Những nhà Sớ Giải thường sử dụng chữ patthanā – hy cầu,
ước nguyện để có vẻ trung lập hơn nhưng rồi cũng rơi vào
trường hợp chữ chanda vì cũng tạo nên hai thuật ngữ:
Taṇhāchanda (ái trước) và chandapatthanā (hoài bảo). Đây
là trường hợp “mèo lại hoàn mèo”.
Nên lưu ý có nhiều Phật tử khi nói đến “dục” thì mặc
nhiên xem đó là tiêu cực, là điều cần phải tránh, phải
diệt. Trong
lúc nói đến “nguyện” thì mặc nhiên xem là tốt. Kỳ thật
thì dục và nguyện đều có thể dùng để dịch chữ chanda.
Bài
học ngày
17.7.2023
HỶ VÀ LẠC
Trong phân tích rõ nét hơn về hạnh phúc, Phật pháp dạy
về hỷ (pīti) và lạc (sukha). Như đã đề cập, hạnh phúc
được hiểu là sự mãn nguyện hay ước vọng được thành tựu.
Từ ước vọng đến sự thành tựu có một trạng thái cần được
biết tới là hỷ (pīti) hay sự hân hoan. Trạng thái nầy có
thể lầm lẫn với hạnh phúc (sukha - lạc) mà cũng có thể
lầm lẫn với sự mong muốn. Trong Tam Tạng và Sớ giải
thường dùng thí dụ sau đây để phân biệt ước muốn, hân
hoan, và hạnh phúc (thuật ngữ gọi là dục, hỷ, và lạc)
Như một người hành trình giữa sa mạc đã cạn nước dự trữ
mang theo đang bị cơn khát hoành hành. Bấy giờ mong ước
tìm được nước và cố gắng đi tới. Đến một lúc nhìn thấy
một ốc đảo từ xa với những cây xanh biết là đó là nơi có
thể tìm thấy nước. Mặc dù kiệt sức nhưng do biết được
sắp có nước nên tâm trên nên hăng hái và thân như có
thêm sinh lực để đi tới. Cuối cùng người lữ hành đang bị
khô khát đã đến được ốc đảo và trầm mình trong hồ nước
cũng như uống nước thoả mãn sự nóng khát.
Hết nước và nóng khát nên mong mỏi tìm được nước là dục
(chanda). Thấy ốc đảo từ xa biết là sắp có nước nên lòng
sung sướng là hỷ (pīti). Trạng thái thoả mãn khi uống
nước và ngâm mình trong hồ không còn bị nóng khác bức
bách là lạc (sukha).
Cần hiểu là ước muốn chỉ là hy vọng có thể là ảo vọng
như một người ao ước được trúng số độc đắt để trở nên
giàu có. Hy vọng có thể định hướng cuộc sống nhưng cũng
có thể là hoang tưởng thiếu thực tế. Một số các tôn giáo
thường nói đến “thiên đường mai sau” hay “vườn địa đàng
được tái tạo” như là niềm hy vọng tối hậu cho cuộc sống.
Sự hân hoan hay hỷ là thứ hạnh phúc chân thực vì ý muốn
sắp hiện thực với cơ sở đủ rõ ràng. Điều nầy có phần gần
với “sự hưởng thụ quá trình”. Như một người thích ăn tết
trong lúc dọn dẹp trang trí nhà cửa, mua sắm hoa trái,
nấu nướng thức ăn… với niềm vui đón tết.
Hỷ hay sự hân hoan thật sự theo Phật pháp là
trạng thái dẫn tới sự lắng dịu những bồn chồn, nghi
hoặc, căng thẳng do khát vọng tạo nên. Sự lắng dịu nầy
Phật pháp gọi là passaddhi – an tịnh.
Trong rất nhiều mô tả trong kinh điển thì sự an tịnh là
cầu nối giữa hỷ và lạc. “có giao động thì không có khinh
an; trái lại sự an tịnh tạo nên khinh an”. Sự mong ước
hay khát vọng thường tạo nên những hoang mang, lo lắng,
căng thẳng, giao động. Có khi do do quá mong muốn tạo
nên những bắt buộc, miễn cưỡng nội tại và đánh mất sự
thanh thanh thản. Sự an tịnh thực sự khi những trạng
thái tiêu cực được thay thế bằng trạng thái lành mạnh.
Niềm hy vọng có thể là động lực cho cuộc sống mà cũng có
thể tạo nên sự thất vọng to lớn. Điều nầy dẫn tới sự
buồn nãn, đau khổ hơn là hạnh phúc. Cần phân biệt ước
vọng (chanda) lành mạnh là sự hy vọng đi với hiểu biết
trong lúc sự khát ái (taṇhā) chỉ là khao khác hưởng thụ
hay chiếm hữu. Như một người bỏ việc làm đi ăn nhậu với
bạn bè đó là taṇhā chứ không phải chanda.
Cũng nên hiểu thêm về một khía cạnh quan trọng của lạc
là sự an tịnh (santi). Đây là trạng thái hoàn toàn thoả
mãn không còn những “lấn cấn”. Thí dụ một người ao ước
có được một chiếc xe đắt tiền. Khi có được thì nhận ra
chi phí bảo trì quá cao, tiền bảo hiểm là khoản tiền
lớn, đi đâu cũng lo sợ bị cọ quẹt.. Hạnh phúc không trọn
vẹn không có sự an tịnh.
Bài
học ngày
24.7.2023
TÁNH PHỨC TẠP TRONG MƯU CẦU HẠNH PHÚC
Con đường dẫn tới hạnh phúc, dù là xuất thế hay hiệp
thế, thì đều pha lẫn giữa áp lực và sự thoả mãn; giữa
thành công và thất bại; giữa cái cái có được và gánh
nặng đeo mang. Một người có trí luôn ý thức rõ là không
thể chỉ có hạnh phúc mà không có cái giá phải trả mà cái
gì đạt được đều gồm “trọn gói”.
Thái độ cầu toàn giữa cuộc sống bất toàn thường tạo nên
thất vọng. Một trong những khía cạnh quan trọng trọng
của ước muốn là mong có được cái hoàn hảo như ý. Mua một
chiếc xe, theo đuổi một sở thích, kết hôn với người bạn
đời… thường đi với ý muốn là tất cả phải tốt như mình
mong mỏi. Nhưng sự bất toàn cuộc thực tế khiến chúng ta
thất vọng. Không phải sự buồn nãn vì xui xẻo mà vì ước
vọng không thực tế. Không có cái gọi là hoàn hảo trong
những gì theo đuổi trong cuộc sống nầy. Ngày nay có
những phong trào hướng về một môi trường sinh thái lành
mạnh hay sự bình đẳng giới tính thường tạo nên những mục
tiêu thiếu thực tế. Cuộc sống thường cần tánh quân bình
hơn là nghiêng về một bên.
Nếu hạnh phúc được định nghĩa là mãn nguyện những gì
mong ước thì nên nhìn ngược lại chính sự mong ước tạo
nên áp lực, căng thẳng, nghi hoặc trong cuộc sống. Quá
mong muốn cái gì thường tạo nên những xáo trộn tâm lý.
Thí dụ một người mẹ quá kỳ vọng ở đứa con học hành đỗ
đạt thường tạo nên nhiều căng thẳng trong việc vai trò
của người mẹ lo cho con. Đa số những âu lo đến từ ước
muốn mãnh liệt kể cả sự tha thiết có cuộc sống bình yên.
Nếu ước muốn cái hoàn hảo là một cực đoan thì đích điểm
tối hậu là một cực đoan khác trong mưu cầu hạnh phúc.
Người ta mua một điện thoại thông minh hay một chiếc xe
đắt tiền với nghĩ là những thứ đó sẽ là “sản phẩm không
một gì khác vượt qua được như một quảng cáo của hãng xe
BMW có câu “Ultimate Driving Machine”. Thực tế thì tất
cả hạnh phúc của trần gian chỉ là giai đoạn và mang giá
trị rất tương đối. Một cái gì đó có thể là “tốt nhất”
trong dự tính nhưng khi có được thì giá trị có thể sớm
lỗi thời khi có cái tốt hơn xuất hiện. Ngay cả cảm hứng
và hạnh phúc đối với những thứ đó của sớm mai một.
Người ta có câu “cứu cánh biện minh cho phương tiện”.
Không may là đa số những thành tựu trong cuộc sống phải
trả bằng giá quá đắt. Thí dụ một người cật lực làm việc
để có số tiền sống thoải mái khi về già nhưng do làm
việc quá nhiều khi về hưu thì sức khoẻ suy yếu. Trong sự
già nua bệnh tật thường khi đồng tiền trở nên vô nghĩa.
Trái lại khi còn trẻ tiêu xài nhiều để ăn chơi khi về
già lâm vào cảnh túng thiếu thì cũng không phải là lối
sống tốt. Nếu cuộc sống là hành trình thì mỗi ngày đều
có giá trị riêng. Sống tất cả vì tương lai mà không cho
phép những giây phút hiện tại an lạc thì thường khi là
lối sống “thả mồi bắt bóng”.
Nói đến tính cách phức tạp của hạnh phúc, một lần nữa
cần nhắc lại tinh thần trung đạo trong Phật pháp. “Nhân
vô viễn lự tất hữu cận ưu” nhưng lo xa quá mà đánh mất
hiện tại thì cũng là cực đoan. Mong cái tốt nhất nhưng
cũng nên nhắc sự tương đối để không tạo thất vọng lớn.
Sống với hy vọng khiến con người hăng hái nhưng sự kỳ
vọng cũng tạo nên căng thẳng, áp lực, thậm chí là sự
thất vọng lớn lao. Khả năng sống như nhiên (yathābhutam)
song hành với chí hướng là điều cần thiết để tạo nên
tinh thần trung đạo.
ƯỚC MUỐN HIỀN THIỆN
Hạnh phúc được hiểu là thành tựu được ước nguyện.
Những mong mỏi chấp ngã, ích kỷ thường tạo nhiều
phiền não, đau khổ hơn là thanh thản, an lạc. Đức Phật
dạy sự huân tu bốn phạm trú là từ, bi, hỷ, xả là những
ước nguyện tốt lành đối với tha nhân mà cũng tạo nên sự
quân bình tâm lý cho chính mình.
Bốn phạm trú hay tứ vô lượng tâm là sự “đơn phương” sống
hoà bình với muôn loại chúng sanh. Dù bất kể hoàn cảnh
nào cũng có thể huân tập được.
Bốn phạm trú cũng là cách sống an ổn “vô điều kiện” mà
chúng sanh ít khi biết được. Người ta thường tự định đặt
những điều kiện phải thế nầy mới dễ thương, phải thế kia
mới đáng trắc ẩn… Một khi từ, bi, hỷ, xả được huân tập
tương đối lớn mạnh thì sẽ giảm đi sự đòi hỏi và là một
trãi nghiệm quan trọng về thứ hạnh phúc vô điều kiện.
Tâm từ (mettā) là sự hoà ái trong bối cảnh bình thường.
Tâm từ là sự mong mỏi tha nhân được an lạc. Đó là trạng
thái thân thiện, hoà dịu, mát mẽ.
Tâm bi (karuṇā) là sự mong mỏi chúng sanh đang đau khổ
được hết khổ. Đó là trạng thái cảm thông, trắc ẩn.
Tâm hỷ (muditā) là sự hân hoan chân thành đối với hạnh
phúc của tha nhân. Đó là tâm lượng bao la hạnh phúc khi
thấy tha nhân hạnh phúc.
Tâm xả (upekkhā) là khả năng tự chế không can thiệp để
người khác có thể tự mình trưởng thành. Đây là sự quân
bình tế nhị. Ngài Payutto thí dụ như người mẹ thương con
khi con chập chững bước đi phải chấp nhận cho con té
đau. Vì con cần học tự mình đứng dậy để đi bằng sự cố
gắng của chính mình.
Với bốn vô lượng tâm kể trên thì “ước muốn – chanda”
được hiểu là:
1.
Sự mong mỏi chúng sanh được vui.
2.
Sự mong mỏi chúng sanh thoát khổ
3.
Sự mong mỏi chúng sanh được tăng tiến
4.
Sự mong mỏi chúng sanh được tự mình trưởng thành
Cả bốn trạng thái tuy khác biệt nhưng đều cần có như
nhau. Thiếu một trong bốn thì những thứ kia khó phát
triển. Như trường hợp một số người nhiều lòng trắc ẩn
khi thấy người khác hoạn nạn nhưng khi cơn hoạn nạn qua
rồi thì ganh tị với những gì người khác có.
Bốn vô lượng tâm là pháp tu có tác dụng giảm thiểu sự
ích kỷ, vô tâm, đố kỵ, giao động là những thức tạo nên
phiền não, khổ luỵ từ ước muốn mà ra.
HẠNH PHÚC CHỦ QUAN VÀ KHÁCH QUAN
Có những hạnh phúc đến từ quan niệm cá nhân tạm gọi là
hạnh phúc chủ quan. Nhưng Phật Pháp cũng ghi nhận có
những hạnh phúc đến từ bản chất hay tự tánh riêng mà ta
co thể tạm gọi là hạnh phúc khách quan. Hai khía cạnh
nầy trở nên rất tế nhị khi đề cập đến “nhận thức như
nhiên – yathābhātaṃ”.
Hạnh phúc khách quan có thể được ghi nhận qua một số
trường hợp sau:
a.
Hạnh phúc đến từ thiên nhiên. Rất nhiều ghi nhận trong
kinh điển cho thấy Đức Phật vầ chư vị a la hán tán thán
hạnh phúc của của núi rừng như vườn
Gosiṅgasāla
trong đêm rằm (Trung Bộ I. 212). Hay câu kinh Pháp Cú:
Khả ái thay núi rừng…
b.
Hạnh phúc đến từ sự hài hoà, thân thiện trong quan hệ
giữa con người với con người như câu hỏi của Đức Phật
đối với tôn giả Anuruddha: - Này Anuruddha, các Thầy có
sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau. Như
nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm
không? (Trung Bộ III. Kinh Tuỳ Phiền não)
c.
Hạnh phúc đến từ nếp sống lương hảo "Có bốn loại hạnh
phúc vật chất mà người tại gia cư sĩ có thể thọ hưởng,
thỉnh thoảng và tùy cơ hội, là: hạnh phúc được có vật sở
hữu (atthisukha), hạnh phúc được có tài sản
(bhogasukha), hạnh phúc không nợ nần (ananasukha), và
hạnh phúc không bị khiển trách (anavajjasukha).
'Hạnh phúc được có sở hữu là gì?'
"Là hạnh phúc của người kia đã tạo nên tài sản do nhờ nỗ
lực cố gắng, nhờ sức lao động chân tay và mồ hôi nước
mắt, thâu thập và thọ lãnh một cách hợp pháp. Khi nghĩ
rằng tài sản này ta đã tạo nên do nhờ sự nỗ lực cố gắng,
thâu thập và thọ lãnh hợp pháp, người kia cảm thấy thỏa
thích và mãn nguyện. Đó là hạnh phúc được có vật sở hữu.
'Hạnh phúc được có tài sản là gì?'
"Là hạnh phúc của người kia đã tạo tài sản do nhờ nỗ lực
cố gắng. Giờ đây chính mình thọ hưởng tài sản ấy, hoặc
dùng của ấy để gieo phước. Khi nghĩ rằng nhờ tài sản đã
tạo nên nay chính ta thọ hưởng và gieo thêm phước, người
kia cảm thấy thỏa thích và mãn nguyện. Đó là hạnh phúc
được có tài sản.
'Hạnh phúc không mang nợ là gì?'
"Là hạnh phúc của người kia không thiếu ai món nợ nhỏ nợ
lớn nào. Khi nghĩ rằng ta không thiếu ai món nợ nhỏ lớn
nào, người kia cảm thấy thỏa thích và mãn nguyện. Đó gọi
là hạnh phúc không mang nợ.
'Hạnh phúc không bị khiển trách là gì?'
"Là hạnh phúc của bậc thánh nhân trong sạch, không có gì
để bận tâm hối cải, không có gì đáng bị phiền trách về
tư tưởng. Không nghĩ rằng mình thọ hưởng hạnh phúc,
không có gì đáng bị khiển trách về hành động, không có
gì đáng bị khiển trách về lời nói và không có gì đáng bị
khiển trách về tư tưởng, bậc thánh nhân cảm thấy hoan
hỷ. Đó là hạnh phúc không bị khiển trách.
"Thành tựu hạnh phúc không mang nợ.
(Tăng Chi Bộ II. Trích từ quyển Đức Phật và Phật Pháp –
Narada - bản dịch của Phạm Kim Khánh).
Một số dẫn chứng trên cho thấy hạnh phúc được đề cập
trong Phật Pháp không hẳn chỉ đến từ cái nhìn chủ quan
của mỗi cá nhân mà có những trường hợp do bản chất khách
quan của cuộc sống.
Bài
học ngày
14.8.2023
HƯỞNG THỤ HẠNH PHÚC
Kiếm tiền trong cuộc mưu sinh là một chuyện, nhưng khi
có tiền rồi mà biết xài tiền đúng cách để tạo nên hạnh
phúc là chuyện khác. Theo lời Phật dạy phước báu thế
gian không nên là điều đáng sợ (Kinh Mettasutta, Tăng
Chi Bộ) nhưng hưởng phước như thế nào là một điều rất
cần để biết. Những gì Đức Phật dạy về hưởng phước nêu rõ
tính trung đạo rất khác với quan niệm bình thường, ngay
cả giữa những hàng xuất gia trong Phật giáo ngày nay.
Hãy đọc kỹ và suy niệm về bài kinh sau đây để nhận ra
được hạnh phúc trần gian và cạm bẫy cũng như thái độ
khôn ngoan nằm ngoài sự cực đoan. Nội dung bài kinh nầy
chứa đựng những ý nghĩa tế nhị đối với người tu tập mà
còn có những lời dạy với lợi ích thiết thực cho những
người đang sống trong “hạnh phúc trần gian”.
25. Kinh Bẫy mồi
(Nivàpa sutta)
Trung Bộ I
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông
Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đây, Thế Tôn gọi các
Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". --"Bạch Thế Tôn", các
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như
sau:
-- Chư Tỷ-kheo, người thợ săn bẫy mồi khi gieo đồ mồi
cho đàn nai không nghĩ rằng: "Ta gieo đồ mồi này cho
đoàn nai ăn để đàn ấy được sống lâu, được tốt đẹp thêm
và được nuôi dưỡng lâu dài hơn". Chư Tỷ-kheo, người thợ
săn bẫy mồi khi gieo đồ mồi cho đàn nai nghĩ rằng: "Ta
gieo đồ mồi này cho đàn nai, để đàn này xâm nhập, tham
đắm ăn các món ăn. Sau khi xâm nhập, tham đắm ăn các món
ăn, chúng trở thành mê loạn; do mê loạn, chúng trở thành
phóng dật; do phóng dật chúng trở thành những vật bị làm
theo ý người ta muốn, giữa các đồ mồi này".
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đàn nai đầu tiên xâm nhập, tham
đắm, ăn các đồ mồi này do người thợ săn bẫy mồi gieo ra.
Chúng xâm nhập, tham đắm ăn các đồ mồi, nên trở thành mê
loạn. Do mê loạn, chúng trở thành phóng dật. Do phóng
dật, chúng trở thành những vật bị làm theo ý người ta
muốn giữa các đồ mồi này của người thợ săn bẫy mồi. Chư
Tỷ-kheo, như vậy đàn nai đầu tiên này không thoát khỏi
như ý lực của người thợ săn bẫy mồi.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đàn nai thứ hai suy nghĩ như
sau: "Ðàn nai đầu tiên này xâm nhập, tham đắm, ăn các đồ
mồi này do người thợ săn bẫy mồi gieo ra. Chúng ở đây
xâm nhập, tham đắm, ăn các đồ mồi, nên trở thành mê
loạn. Do mê loạn, chúng trở thành phóng dật. Do phóng
dật, chúng trở thành những vật bị làm theo ý người ta
muốn giữa các đồ mồi này của người thợ săn bẫy mồi. Như
vậy, đàn nai đầu tiên không thoát khỏi như ý lực của
người thợ săn bẫy mồi. Vậy chúng ta hãy hoàn toàn từ bỏ
các đồ mồi, từ bỏ các vật dụng đáng sợ hãi, đi sâu vào
rừng và an trú". Rồi đàn nai ấy hoàn toàn từ bỏ các đồ
mồi, từ bỏ các vật dụng đáng sợ hãi, đi sâu vào rừng và
an trú. Cuối tháng mùa hạ, cỏ nước khan hiếm, thân hình
đàn nai ấy trở thành hết sức gầy yếu. Vì thân hình đàn
nai ấy trở thành hết sức gầy yếu, sức lực của chúng bị
kiệt quệ. Vì sức lực bị kiệt quệ, đàn nai ấy trở lại các
đồ mồi của người thợ săn bẫy mồi gieo ra. Chúng ở đây
xâm nhập, tham đắm, ăn các đồ mồi. Vì chúng ở đây xâm
nhập, tham đắm, ăn các đồ mồi, nên trở thành mê loạn. Do
mê loạn, chúng trở thành phóng dật. Do phóng dật, chúng
trở thành những vật bị làm theo ý người ta muốn giữa các
đồ mồi này của người thợ săn bẫy mồi. Như vậy đàn nai
thứ hai không thoát khỏi như ý lực của người thợ săn bẫy
mồi.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đàn nai thứ ba suy nghĩ như sau:
"Ðàn nai đầu tiên này xâm nhập tham đắm, ăn các đồ mồi
này của người thợ săn bẫy mồi gieo ra. Chúng ở đây xâm
nhập, tham đắm, ăn các đồ mồi, nên trở thành mê loạn. Do
mê loạn, chúng trở thành phóng dật. Do phóng dật, chúng
trở thành những vật bị làm theo ý người ta muốn giữa các
đồ mồi này của người thợ săn bẫy mồi. Như vậy, đàn nai
đầu tiên này không thoát khỏi như ý lực của người thợ
săn bẫy mồi. Còn đàn nai thứ hai này suy nghĩ như sau:
"Ðàn nai đầu tiên này xâm nhập, tham đắm, ăn các đồ mồi
này của người thợ săn bẫy mồi... (như trên)... Như vậy
đàn nai đầu tiên này không thoát khỏi như ý lực của
người thợ săn bẫy mồi. Vậy chúng ta hãy hoàn toàn từ bỏ
các món ăn bẫy mồi, từ bỏ các vật dụng đáng sợ hãi, đi
sâu vào rừng và an trú". Rồi đàn nai ấy hoàn toàn từ bỏ
các món ăn bẫy mồi, từ bỏ các vật dụng đáng sợ hãi, đi
sâu vào rừng và an trú. Cuối tháng mùa hạ, cỏ nước khan
hiếm, thân hình đàn nai ấy trở thành hết sức gầy yếu. Vì
thân hình đàn nai ấy trở thành hết sức gầy yếu, sức lực
của chúng bị kiệt quệ. Vì sức lực bị kiệt quệ, đàn nai
ấy trở lại các đồ mồi ấy do người thợ săn bẫy mồi gieo
ra. Chúng ở đây xâm nhập tham đắm ăn các đồ mồi. Vì
chúng ở đây xâm nhập tham đắm ăn các đồ mồi, nên trở
thành mê loạn. Do mê loạn, chúng trở thành phóng dật. Do
phóng dật, chúng trở thành những vật bị làm theo ý người
ta muốn giữa các đồ mồi này của người thợ săn bẫy mồi.
Như vậy đàn nai thứ hai không thoát khỏi như ý lực của
người thợ săn bẫy mồi. Nay chúng ta hãy làm một chỗ ẩn
nấp gần các đồ mồi này của người thợ săn bẫy mồi. Sau
khi làm chỗ ẩn nấp xong, không xâm nhập, không tham đắm,
chúng ta sẽ ăn các đồ mồi ấy do người thợ săn bẫy mồi
gieo ra. Vì không xâm nhập không tham đắm ăn các món ăn,
chúng ta sẽ không mê loạn. Do không mê loạn, chúng ta sẽ
không phóng dật. Do không phóng dật, chúng ta sẽ không
trở thành những vật bị làm theo ý người ta muốn giữa các
đồ mồi của người thợ săn bẫy mồi". Rồi chúng làm một chỗ
ẩn nấp gần các đồ mồi này của người thợ săn bẫy mồi. Sau
khi làm chỗ ẩn nấp xong, không xâm nhập, không tham đắm,
chúng ăn các đồ mồi ấy do người thợ săn bẫy mồi gieo ra.
Vì không xâm nhập, không tham đắm ăn các món ăn, nên
chúng không mê loạn. Do không mê loạn, chúng không phóng
dật. Do không phóng dật, chúng không trở thành những vật
bị làm theo ý người ta muốn giữa các đồ mồi này của
người thợ săn bẫy mồi.
-- Ở đây, này các Tỷ-kheo, người thợ săn bẫy mồi và
quyến thuộc người thợ săn bẫy mồi suy nghĩ như sau: "Ðàn
nai thứ ba này thật tinh khôn, xảo quyệt. Ðàn nai thứ ba
này thật có thần lực và ma quái. Chúng ăn các đồ mồi
được gieo ra này, mà chúng ta không được biết đường đi
lối về của chúng. Vậy chúng ta hãy bao vây xung quanh
các đồ mồi được gieo này, với những cây cột to lớn và
những bẫy sập cùng khắp mọi nơi. Rồi chúng ta có thể
thấy được chỗ ẩn nấp của đàn nai thứ ba này, chỗ chúng
có thể đi để lấy đồ ăn". Rồi họ bao vây xung quanh các
đồ mồi được gieo này với những cây cột to lớn và những
bẫy sập cùng khắp mọi nơi. Này các Tỷ-kheo, người thợ
săn bẫy mồi và những người quyến thuộc người thợ săn bẫy
mồi thấy được chỗ ẩn nấp của đàn nai thứ ba, chỗ chúng
đi để lấy đồ ăn. Như vậy này các Tỷ-kheo, đàn nai thứ ba
này không thoát được như ý lực của người thợ săn bẫy
mồi.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, đàn nai thứ tư suy nghĩ như sau:
"Ðàn nai đầu tiên này xâm nhập tham đắm, ăn các đồ mồi
này của người thợ săn bẫy mồi... (như trên)... Như vậy
đàn nai đầu tiên này không thoát khỏi như ý lực của
người thợ săn bẫy mồi. Còn đàn nai thứ hai này suy nghĩ
như sau: "Ðàn nai đầu tiên này xâm nhập tham đắm, ăn các
đồ mồi này của người thợ săn bẫy mồi... (như trên)...
Như vậy đoàn nai đầu tiên này không thoát khỏi như ý lực
của người thợ săn bẫy mồi. Vậy chúng ta hãy... (như
trên)...". Như vậy đàn nai thứ hai này không thoát khỏi
như ý lực của người thợ săn bẫy mồi. Ðàn nai thứ ba suy
nghĩ như sau: "Ðàn nai đầu tiên xâm nhập tham đắm, ăn
các đồ mồi này của người thợ săn bẫy mồi... (như
trên)... Như vậy đàn nai đầu tiên này không thoát khỏi
như ý lực của người thợ săn bẫy mồi. Còn đàn nai thứ hai
này suy nghĩ như sau: "Ðàn nai đầu tiên này xâm nhập
tham đắm ăn các đồ mồi này của người thợ săn bẫy mồi...
Như vậy, đàn nai đầu tiên này không thoát khỏi như ý lực
của người thợ săn bẫy mồi. Vậy chúng ta hãy... (như
trên)...". Như vậy đàn nai thứ hai này không thoát khỏi
như ý lực của người thợ săn bẫy mồi. Vậy chúng ta hãy
làm một chỗ ẩn nấp gần các đồ mồi này của người thợ săn
bẫy mồi. Sau khi làm chỗ ẩn nấp xong, không xâm nhập,
không tham đắm chúng ta sẽ ăn các đồ mồi ấy do người thợ
săn gieo ra. Vì không xâm nhập, không tham đắm, ăn các
món ăn, chúng ta sẽ không mê loạn. Do không mê loạn,
chúng ta sẽ không phóng dật. Do không phóng dật, chúng
ta sẽ không trở thành những vị bị làm theo ý người ta
muốn giữa những đồ mồi của người thợ săn bẫy mỗi". Rồi
chúng làm một chỗ ẩn nấp gần các đồ mồi này của người
thợ săn bẫy mồi. Sau khi làm chỗ ẩn nấp xong, không xâm
nhập, không tham đắm, chúng ăn các đồ mồi ấy do người
thợ săn bẫy mồi gieo ra. Vì không xâm nhập, không tham
đắm ăn các món ăn, chúng không mê loạn. Do không mê
loạn, chúng không phóng dật. Do không phóng dật, chúng
không trở thành những vật bị làm theo ý người ta muốn
giữa những đồ mồi này của người thợ săn bẫy mồi. Ở đây,
người thợ săn bẫy mồi và những quyến thuộc của người ấy
suy nghĩ như sau: "Ðàn nai thứ ba này thật tinh khôn,
xảo quyệt. Ðàn nai thứ ba này thật có thần lực và ma
quái. Chúng ăn các đồ mồi được gieo ra mà chúng ta không
được biết đường đi lối về của chúng. Vậy chúng ta hãy
bao vây xung quanh các đồ mồi được gieo này với những
cây cột to lớn và những bẫy sập cùng khắp mọi nơi. Rồi
chúng ta có thể thấy được chỗ ẩn nấp của đàn nai thứ ba
này, chỗ chúng có thể đi để lấy đồ ăn". Rồi họ bao vây
xung quanh các đồ mồi được gieo này với những cây cột to
lớn và những bẫy sập cùng khắp mọi nơi. Người thợ săn
bẫy mồi và những quyến thuộc của người ấy thấy được chỗ
ẩn nấp của đàn nai thứ ba, chỗ chúng đi để lấy đồ ăn.
Như vậy đàn nai thứ ba ấy đã không thoát khỏi như ý lực
của người thợ săn bẫy mồi. Vậy chúng ta hãy làm một chỗ
ẩn nấp, tại một nơi mà người thợ săn bẫy mồi và những
quyến thuộc của người ấy không thể đến được. Làm chỗ ẩn
nấp tại đó xong, không xâm nhập, không tham đắm, chúng
ta sẽ ăn các đồ mồi do người thợ săn bẫy mồi gieo ra. Vì
không xâm nhập, không tham đắm ăn các món ăn, chúng ta
sẽ không mê loạn. Do không mê loạn, chúng ta sẽ không
phóng dật. Do không phóng dật, chúng ta sẽ không trở
thành những vật bị làm theo ý người ta muốn giữa các đồ
mồi của người thợ săn bẫy mồi". Rồi đàn nai thứ tư làm
một chỗ ẩn nấp tại một nơi mà người thợ săn bẫy mồi và
những quyến thuộc của người ấy không thể đến được. Làm
chỗ ẩn nấp tại đó xong, không xâm nhập, không tham đắm,
chúng ăn các đồ mồi do người thợ săn bẫy mồi gieo ra. Vì
không xâm nhập, không tham đắm ăn các món ăn, chúng
không trở thành mê loạn. Do không mê loạn, chúng không
trở thành phóng dật. Do không phóng dật, chúng không trở
thành những vật bị làm theo ý người ta muốn giữa các đồ
mồi của người thợ săn bẫy mồi.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người thợ săn bẫy mồi và những
quyến thuộc của người ấy suy nghĩ như sau: "Ðàn nai thứ
tư này thật tinh khôn, xảo quyệt. Ðàn nai thứ tư này
thật có thần lực và ma quái. Và chúng ăn các đồ mồi được
gieo ra mà chúng ta không biết được đường đi lối về của
chúng. Vậy chúng ta hãy bao vây xung quanh các đồ mồi
được gieo này với những cây cột to lớn và những bẫy sập
cùng khắp mọi nơi. Rồi chúng ta có thể thấy được chỗ ẩn
nấp của đàn nai thứ tư này, chỗ chúng có thể đi để lấy
đồ ăn". Rồi họ bao vây xung quanh các đồ mồi được gieo
này với những cây cột to lớn và những bẫy sập cùng khắp
mọi nơi. Nhưng này các Tỷ-kheo, người thợ săn bẫy mồi và
những quyến thuộc của người ấy đã không thấy được chỗ ẩn
nấp của đàn nai thứ tư này, chỗ chúng có thể đi để lấy
đồ ăn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, người thợ săn và những
quyến thuộc của người ấy lại suy nghĩ như sau: "Nếu
chúng ta đánh phá đàn nai thứ tư này, chúng bị đánh phá
sẽ đánh phá các đàn nai khác; các đàn nai khác bị đánh
phá sẽ đánh phá các đàn nai khác nữa. Như vậy toàn thể
đàn nai sẽ từ bỏ các đồ mồi được gieo này. Vậy chúng ta
chớ có can thiệp vào đàn nai thứ tư". Này các Tỷ-kheo,
người thợ săn bẫy mồi và những quyến thuộc của người ấy
không can thiệp vào đàn nai thứ tư. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, đàn nai thứ tư đã thoát khỏi như ý lực của
người thợ săn bẫy mồi.
Này các Tỷ-kheo, tỷ dụ này được Ta dùng để giải thích ý
nghĩa. Và ý nghĩa ở đây là như sau: Chư Tỷ-kheo, đồ mồi
đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng. Chư Tỷ-kheo, người
thợ săn bẫy mồi đồng nghĩa với Ác ma. Chư Tỷ-kheo, các
quyến thuộc của người thợ săn bẫy mồi đồng nghĩa với
quyến thuộc của Ác ma. Chư Tỷ-kheo, các đàn nai đồng
nghĩa với các Sa-môn, Bà-la-môn.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng Sa-môn, Bà-la-môn đầu tiên
xâm nhập, tham đắm ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các
vật dụng thế gian. Ở đây, họ xâm nhập, tham đắm ăn các
món ăn, nên trở thành mê loạn; vì mê loạn, họ trở thành
phóng dật; vì phóng dật, họ trở thành những người bị làm
theo ý Ác ma muốn giữa các đồ mồi này và giữa các vật
dụng thế gian. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hạng Sa-môn,
Bà-la-môn đầu tiên này không thoát được như ý lực của Ác
ma. Này các Tỷ-kheo, Ta nói hạng Sa-môn, Bà-la-môn đầu
tiên này giống như đàn nai đầu tiên trong thí dụ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai
suy nghĩ như sau: "Hạng Sa-môn, Bà-la-môn đầu tiên này
đã xâm nhập, tham đắm ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra, và
các vật dụng thế gian. Ở đây, họ xâm nhập, tham đắm ăn
các món ăn, nên trở thành mê loạn; vì mê loạn, họ trở
thành phóng dật; vì phóng dật, họ trở thành những người
bị làm theo ý Ác ma muốn giữa các đồ mồi ấy và giữa các
vật dụng thế gian. Như vậy, hạng Sa-môn, Bà-la-môn đầu
tiên này đã không thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Vậy,
chúng ta hãy hoàn toàn từ bỏ các đồ mồi và các vật dụng
thế gian, từ bỏ các vật dụng đáng sợ hãi, đi sâu vào
rừng và an trú". Họ hoàn toàn từ bỏ các đồ mồi, các vật
dụng thế gian, từ bỏ các vật dụng đáng sợ hãi, đi sâu
vào rừng và an trú. Ở đây, họ trở thành những người ăn
cỏ lúa, ăn lúa tắc, những người ăn gạo lức, những người
ăn hột cải Nivara, những người ăn da vụn, những người ăn
trấu, những người ăn nước bột gạo, những người ăn hột
vừng, những người ăn cỏ, những người ăn phân bò, những
người ăn trái cây, những người ăn rễ cây trong rừng,
những người ăn trái cây rụng để sống.
Cuối tháng mùa hạ, cỏ nước trở thành khan hiếm, thân
hình của hạng Sa-môn, Bà-la-môn ấy trở thành hết sức gầy
yếu. Vì thân hình hạng Sa-môn, Bà-la-môn ấy trở thành
hết sức gầy yếu, nên sức lực tinh tấn của họ bị kiệt
quệ. Vì sức lực tinh tấn bị kiệt quệ, nên tâm giải thoát
bị kiệt quệ. Vì tâm giải thoát bị kiệt quệ, họ trở lui
lại các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế
gian. Ở đây, họ xâm nhập, tham đắm ăn các món ăn. Do ở
đây xâm nhập, tham đắm ăn các món ăn, chúng trở thành mê
loạn. Do mê loạn, họ trở thành phóng dật. Do phóng dật,
họ trở thành những người bị làm theo ý Ác ma muốn giữa
các đồ mồi này và giữa các vật dụng thế gian. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai này đã
không thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Này các Tỷ-kheo,
Ta nói rằng hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai này giống như
đàn nai thứ hai trong ví dụ này.
Này các Tỷ-kheo, ở đây hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ ba suy
nghĩ như sau: "Hạng Sa-môn, Bà-la-môn đầu tiên này xâm
nhập, tham đắm ăn các đồ mồi được Ác ma gieo ra và các
vật dụng thế gian... (như trên)... Như vậy hạng Sa-môn,
Bà-la-môn đầu tiên này đã không thoát khỏi như ý lực của
Ác ma. Hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai suy nghĩ như sau:
"Hạng Sa-môn, Bà-la-môn đầu tiên này xâm nhập, tham đắm
ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra, và các vật dụng thế
gian... (như trên)... Như vậy, hạng Sa-môn, Bà-la-môn
đầu tiên này đã không thoát khỏi như ý lực của Ác ma.
Vậy chúng ta hãy hoàn toàn từ bỏ các đồ mồi... (như
trên)... chúng ta từ bỏ hoàn toàn các đồ mồi... (như
trên)..."... Như vậy, hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai này
cũng không thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Vậy chúng ta
hãy làm một chỗ ẩn nấp gần các đồ mồi do Ác ma gieo ra
và các vật dụng thế gian. Ở đây, sau khi làm một chỗ ẩn
nấp xong, không xâm nhập, không tham đắm, chúng ta sẽ ăn
các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian. Do
không xâm nhập, không tham đắm ăn các món ăn, chúng ta
sẽ không trở thành mê loạn. Do không mê loạn, chúng ta
sẽ không trở thành phóng dật. Do không phóng dật, chúng
ta sẽ không trở thành những người bị làm theo Ác ma
muốn, giữa các đồ mồi và các vật dụng thế gian." Hạng
Sa-môn, Bà-la-môn này làm chỗ ẩn nấp gần các đồ mồi do
Ác ma gieo ra và giữa các vật dụng thế gian. Sau khi làm
chỗ ẩn nấp ở đây xong, họ không xâm nhập, không tham đắm
ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian.
Không xâm nhập, không tham đắm, họ không ăn các đồ mồi
nên không trở thành mê loạn. Do không mê loạn, họ không
trở thành phóng dật. Do không phóng dật, họ không trở
thành những người bị làm theo Ác ma muốn giữa các đồ mồi
và các vật dụng thế gian. Nhưng rồi họ có những tà kiến
như sau: "Thế giới là thường còn; thế giới là không
thường còn; thế giới là hữu biên; thế giới là vô biên;
mạng sống và thân thể là một; mạng sống và thân thể là
khác; Như Lai sau khi chết có tồn tại; Như Lai sau khi
chết không tồn tại; Như Lai sau khi chết có tồn tại và
không tồn tại; Như Lai sau khi chết không tồn tại và
không không tồn tại". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các
Sa-môn, Bà-la-môn thứ ba này đã không thoát khỏi như ý
lực của Ác ma. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hạng Sa-môn,
Bà-la-môn thứ ba này giống như đàn nai thứ ba trong ví
dụ này.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ tư
suy nghĩ như sau: "Hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ nhất xâm
nhập, tham đắm ăn các đồ mồi của Ác ma và các vật dụng
thế gian... như vậy, hạng Sa-môn, Bà-la-môn này không
thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Hạng Sa-môn, Bà-la-môn
thứ hai suy nghĩ như sau: "Hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ
nhất... (như trên)... Như vậy, hạng Sa-môn, Bà-la-môn
thứ nhất không thoát được như ý lực của Ác ma. Vậy,
chúng ta hãy từ bỏ hoàn toàn các món ăn bẫy mồi... (như
trên)...". Như vậy, hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ hai không
thoát khỏi như ý lực của Ác ma. Hạng Sa-môn, Bà-la-môn
thứ ba suy nghĩ như sau : "...(như trên)... Như vậy,
hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ ba không thoát khỏi như ý lực
của Ác ma. Vậy chúng ta hãy làm chỗ ẩn nấp tại một nơi
mà Ác ma và Ác ma quyến thuộc không thể đến được. Làm
chỗ ẩn nấp ở đấy xong, chúng ta sẽ không xâm nhập, không
tham đắm ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng
thế gian. Không xâm nhập, không tham đắm ăn các đồ ăn
nên chúng ta không trở thành mê loạn. Do không mê loạn,
chúng ta không trở thành phóng dật. Do không phóng dật,
chúng ta không trở thành những người bị làm theo Ác ma
muốn, giữa các đồ mồi và các vật dụng thế gian". Rồi họ
làm chỗ ẩn nấp tại một nơi mà Ác ma và Ác ma quyến thuộc
không thể đến được. Làm chỗ ẩn nấp ở đấy xong, họ không
xâm nhập, không tham đắm ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra
và các vật dụng thế gian. Không xâm nhập, không tham đắm
ăn các đồ mồi do Ác ma gieo ra và các vật dụng thế gian,
nên họ không trở thành mê loạn. Do không mê loạn, họ
không trở thành phóng dật. Do không phóng dật, họ không
trở thành những người bị làm theo Ác ma muốn giữa các đồ
mồi và các vật dụng thế gian. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
hạng Sa-môn, Bà-la-môn thứ tư đã thoát khỏi như ý lực
của Ác ma. Này các Tỷ-kheo, Ta nói hạng Sa-môn,
Bà-la-môn thứ tư này giống như đàn nai thứ tư trong ví
dụ này.
Này các Tỷ-kheo, sao gọi là Ác ma và Ác ma quyến thuộc
không thể đến được? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly
dục, ly ác bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất,
một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này
các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Tỷ-kheo làm Ác ma mù mắt,
đoạn tuyệt mắt của Ác ma, không còn dấu tích, khiến Ác
ma không thấy đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng
và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định
sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Như vậy gọi
là vị Tỷ-kheo làm Ác ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt của Ác
ma, không còn dấu tích, khiến Ác ma không thấy đường đi
lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh
niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi
là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Như vậy
gọi là Tỷ-kheo... (như trên)... đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt
hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư không
khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy gọi là
Tỷ-kheo... (như trên)...đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc
tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối
với dị tưởng. Tỷ-kheo nghĩ rằng: "Hư không là vô biên",
chứng và trú Không vô biên xứ. Như vậy gọi là Tỷ-
kheo...(như trên)... đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô
biên xứ, nghĩ rằng "Thức là vô biên", chứng và trú Thức
vô biên xứ. Như vậy, gọi là vị Tỷ-kheo... (như trên)...
đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô
biên xứ, nghĩ rằng: "Không có một vật gì", chứng và trú
Vô sở hữu xứ. Như vậy gọi là Tỷ-kheo... (như trên)...
đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vượt lên mọi Vô sở hữu
xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy gọi
là vị Tỷ-kheo... (như trên)... đường đi lối về.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vượt lên mọi Phi tưởng
phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng (định),
sau khi thấy (mọi vật) với trí tuệ, các lậu hoặc được
diệt trừ. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Tỷ-kheo làm Ác
mà mù mắt, đoạn tuyệt mắt của Ác ma, không còn dấu tích,
khiến Ác ma không thấy đường đi lối về. Vị ấy đã vượt
khỏi tham trước ở đời.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín
thọ lời Thế Tôn dạy.
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Bài
học ngày
20.8.2023
HIỂU BIẾT VỀ NHỮNG THỨ HẠNH PHÚC
Hạnh phúc không chỉ đơn giản có một mà rất đa dạng. Sự
hiểu biết rộng về nhiều thứ hạnh phúc khác biệt giúp
chúng ta có cái nhìn thấu đáo hơn về sự quân bình trong
cuộc sống. Tương tự như trong ẩm thực người ta nói đến
sự kết hợp nhiều thứ rau, củ, quả và những nguyên liệu
để những món ăn tốt cho sức khoẻ mà cũng hợp với khẩu
vị.
Nếu hạnh phúc được định nghĩa một cách tổng quát là
thành tựu được ước vọng thì có một thuật ngữ mà người
học Phật nên biết là chữ attha - lợi lạc. Nguyên nghĩa
của chữ attha có nghĩa là mục tiêu, mục đích của đời
sống. Dịch thoát là lợi lạc có nghĩa là lợi ích được
thành tựu mang lại an lạc hạnh phúc. Trong Tiểu Bộ ( Nd.
I. 168-9) đề cập đến ba sự lợi lạc:
1.
Lợi lạc nhãn tiền (diṭṭhadhammikattha) là những thành
tựu có thể nhận ra nhanh chóng một cách cụ thể như sự
sung túc vật chất hay sức khoẻ tráng kiện, tình thương
yêu ….
2.
Lợi lạc tế nhị
(samparāyikattha) nhấn mạnh về nội tâm an tịnh,
những năng lượng tích cực về mặt tinh thần, thường chỉ
cho hạnh phúc ít tuỳ thuộc ở vật chất.
3.
Lợi lạc tối thượng
(paramattha) là hạnh phúc của thanh tịnh, giác
ngộ, giải thoát. Đây là thứ hạnh phúc vượt lên trên tất
cả những điều kiện thường tình.
Cũng nói về sự lợi lạc, Đức Phật cũng dạy một khía cạnh
khác mà người trí cần hiểu biết qua ba sự lợi lạc khác
như được ghi trong Tương Ưng bộ (S. V. 121-2):
1.
Lợi lạc tự thân (attattha) có nghĩa là tạo hạnh phúc cho
chính mình với ba lợi lạc kể trên.
2.
Lợi lạc tha nhân (parattha) là mang lại hạnh phúc cho
tha nhân. Điều nầy hàm nghĩa hai điều: mang lại hạnh
phúc cho người khác là tạo phước hạnh cho bản thân; và
trong một ý nghĩa quan trọng khác: nếu ai mưu cầu hạnh
phúc cho mình bằng cách gây thương tổn cho người khác sẽ
không bao giờ được hạnh phúc đích thực.
3.
Lợi lạc lưỡng biên (ubhayattha) là mang lại hạnh phúc
cho cả hai bản thân và tha nhân qua những cống hiến tốt
đẹp cho đời mà mọi người hưởng lợi ích trong lúc bản
thân được tăng thượng.
Nói về các thứ hạnh phúc trong cuộc sống, người học Phật
nên có cái nhìn thông thoáng, không đóng khung. Bài kinh
sau đây trích từ Tương Ưng Bộ là một đơn cử về lời dạy
của Đức Phật đối với sự an lạc trong nếp sống hằng ngày:
II. Ðại Thực: Ăn nhiều (S.i,81)
1) Trú ở Sàvatthi.
Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala thường ăn bữa ăn
thịnh soạn.
2) Rồi vua Pasenadi nước Kosala sau khi ăn xong, no đủ,
thỏa thích, đi đến Thế Tôn sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn
và ngồi xuống một bên.
3) Rồi Thế Tôn sau khi biết vua Pasenadi nước Kosala đã
ăn xong, no đủ, thỏa thích, ngay lúc ấy nói lên bài kệ: Ðược ăn, biết phải chăng, Chừng mực, cảm thọ mạnh, Già chậm, tuổi thọ dài.
4) Lúc bấy giờ, thanh niên Bà-la-môn Sudassana đứng sau
lưng vua Pasenadi nước Kosala.
5) Rồi vua Pasenadi nước Kosala gọi thanh niên
Sudassana:
-- Này Bạn, hãy đi đến và học thuộc lòng bài kệ từ Thế
Tôn và trong khi dọn ăn cho ta, hãy đọc lên bài kệ ấy.
Ta sẽ cấp thường nhật cho ông một trăm đồng tiền vàng.
6) -- Thưa vâng, Ðại vương.
Thanh niên Sudassana vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala,
học thuộc lòng bài kệ này từ Thế Tôn, và trong khi dọn
cơm cho vua Pasenadi nước Kosala, đọc lên bài kệ này: Ðược ăn, biết phải chăng, Chừng mực, cảm thọ mạnh, Già chậm, tuổi thọ dài."
7) Rồi vua Pasenadi nước Kosala tuần tự hạn chế, cho đến
chỉ ăn nhiều nhất là một nàlika.
8) Vua Pasenadi sau một thời gian, thân thể được khỏe
mạnh, tự tay thoa bóp chân tay và nói lên lời cảm hứng
sau đây: "Ôi, thật sự Thế Tôn đã thương tưởng nghĩ đến
lợi ích cho ta, cả hai đời hiện tại và vị lai!"
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Trong bài kinh trên khi Đức Phật dạy về sự điều độ trong
ăn uống, Ngài nêu rõ những lợi lạc như cảm thọ dễ chịu,
làm chậm sự lão hoá, sống lâu. Rõ ràng những điều nầy
cũng là những thứ hạnh phúc cho con người mặc dù không
hẳn là mục đích tối thượng. Từ nhiều Phật ngôn tìm thấy
trong Tam Tạng, một người có hiểu biết sẽ tự mình áp
dụng một cách thiết thực những phương cách mang lại hạnh
phúc cho bản thân. Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng |