BÀI HỌC HẰNG NGÀY

Thứ Năm, 24 tháng 08, 2023

MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ

XIII. PHẨM ĐỜI (Lokavagga)

 - Kệ số 8 (dhp 174)
 

 Duyên sự:

Bài kệ nầy đức Phật thuyết tại xứ Āḷavī, nơi tháp Aggālava, vì chuyện con gái người thợ dệt (pesakāradhītā).

Một ngày kia, dân chúng xứ Āḷāvī thỉnh đức Phật đến xứ Āḷavī, để họ tạo phước cúng dường và nghe pháp.

Đức Phật thuyết pháp cho họ nghe với đề tài niệm sự chết:

“Hãy tu tập niệm sự chết rằng_Mạng sống của ta không trường cửu, sự chết chắc chắn sẽ đến với ta; Ta không tránh được sự chết; Mạng sống là bất định, sự chết là nhất định. Đối với những người không tu tập niệm chết, khi lâm chung họ hốt hoảng, rú lên khiếp đảm, ví như người không cầm gậy khi thấy con rắn độc, nó hoảng hốt vậy; Còn đối với những ai tu tập niệm chết, lúc lâm chung họ không sợ hãi, ví như người cầm gậy thấy rắn độc từ xa đã bình tĩnh thủ thế vậy. Do đó, cần phải tu tập niệm chết”.

Sau khi nghe pháp, dân chúng trở về chỉ lo công việc của mình. Riêng có một cô gái con người thợ dệt là quyết tâm tu tập niệm chết theo lời Phật dạy. Cô gái ấy đã tu tập ngày đêm về đề tài niệm sự chết.

Đức Phật rời khỏi xứ ấy đi đến Jetavana ở Sāvatthi. Cô gái ấy đã tu tập niệm chết suốt ba năm.

Một ngày kia, đức Phật quán sát thế gian, Ngài thấy căn lành đắc thánh quả của cô con gái người thợ dệt, cô ta đã tu tập niệm chết suốt ba năm. Sau khi quán sát thấy rõ như thế, đức Phật cùng chư tỳ kheo khởi hành từ Sāvatthi đi đến xứ Āḷavī. Khi đã đến Āḷavī, Ngài và chư tỳ kheo ngụ tại tịnh xá tháp Aggāḷava.

Cư dân Āḷavī biết được đức Thế Tôn đã đến Āḷavī bèn cùng nhau vào tịnh xá đảnh lễ đức Phật và xin cúng dường bữa ăn ngày mai. Nàng chức nữ nghe tin đức Phật đã về đến Āḷavī rất vui mừng nghĩ đến sẽ được diện kiến tôn nhan bậc Đạo Sư và nghe Ngài thuyết Pháp, vì đã ba năm tu tập niệm chết theo lời Ngài dạy cách đây ba năm, nay được chiêm ngưỡng và nghe Ngài giáo giới thật hoan hỷ.

Sáng hôm sau, nàng chức nữ ấy chuẩn bị đi chùa nghe pháp thì người cha sắp đi đến xưởng dệt mới giao cho nàng công việc ở nhà. Nàng chức nữ làm xong việc liền vội vả đến tịnh xá nghe pháp, nàng đi đến trễ.

Buổi sáng, thị dân trong thành Āḷavī tập trung về tịnh xá Aggāḷava cúng dường đức Thế Tôn và Tăng chúng, sau buổi lễ cúng dường, họ ngồi lại yên lặng chờ nghe đức Thế Tôn thuyết pháp. Chưa thấy nàng chức nữ đến, Ngài vẫn im lặng vì Ngài muốn tiếp độ nàng chức nữ đắc quả dự lưu và Ngài biết rằng nàng chức nữ hôm nay sẽ mệnh chung nếu đắc quả thánh chắc chắn nàng ấy sẽ sanh vào cõi Đâu Suất.

Nàng chức nữ đến trễ, thấy đức Thế Tôn vẫn im lặng chưa thuyết pháp và đưa mắt nhìn nàng. Nàng hiểu rằng đức Phật đang chờ tiếp độ nàng.

Nàng chức nữ tiến vào đến đãnh lễ đức Phật và ngồi xuống một bên, Đức Thế Tôn bắt đầu hỏi nàng:

“Con từ đâu đến?”
“Bạch Thế Tôn, con không biết!”
“Rồi con sẽ về đâu?”
“Bạch Thế Tôn, con không biết!”
“Con không biết thật ư?”
“Bạch Thế Tôn, con biết thật!”
“Con biết thật à?”
“Bạch Thế Tôn, con không biết!”

Đức Thế Tôn đã hỏi nàng chức nữ bốn câu hỏi và nàng đã trả lời như thế, đại chúng ngồi nghe lấy làm bực tức cho rằng nàng chức nữ nầy giễu cợt bậc Đạo Sư, họ la ó trách mắng nàng.

Đức Thế Tôn ra dấu bảo hội chúng im lặng. Rồi Ngài hỏi cô chức nữ, vì sao khi được hỏi “Từ đâu đến?” lại trả lời “không biết”. Nàng ấy đáp: “Con nghĩ rằng, đức Thế Tôn hỏi con từ cõi nào sanh lại đây? Nên con trả lời là không biết”. Đức Thế Tôn khen “Sādhu”.

Ngài hỏi tiếp, vì sao khi được hỏi “Sẽ về đâu?” lại trả lời “Không biết”. Nàng ấy đáp: “Con nghĩ rằng, đức Thế Tôn hỏi con sẽ sanh về đâu? Nên con mới trả lời là không biết”. Lần thứ hai đức Phật khen “Sādhu”.

Đức Phật hỏi tiếp, vì sao khi được hỏi “Không biết thật ư?” lại đáp “Con biết thật”. Nàng chức nữ nói: “Con nghĩ là đức Thế Tôn hỏi con có biết thân nầy sẽ phải chết không? Nên con đáp “Con biết thật”. Lần thứ ba, đức Phật khen nàng “Sādhu!”

Cuối cùng đức Thế Tôn hỏi nàng, vì sao khi được hỏi “Có biết thật à?” lại nói “Con không biết”. Cô gái đáp: “Con nghĩ đức Thế Tôn có ý hỏi, con có biết sẽ chết lúc nào? Chết ở đâu? Chết bằng cách nào không? Vì vậy con trả lời là “Con không biết”. Lần thứ tư, đức Phật khen ngợi cô gái “Sādhu”.

Đức Phật phán: “Bốn câu hỏi của Như Lai có ý nghĩa như vậy, và con đã trả lời đúng ý nghĩa đó”. Ngài dạy đại chúng rằng:

“Các câu hỏi của Như Lai có ý nghĩa thâm sâu, người có tu tập niệm sự chết như nàng tín nữ mới hiểu ý và trả lời chính xác. Hội chúng nên tán thán nàng, chứ đừng phiền trách. Người mù quáng thiếu trí không hiểu lý pháp; người có trí như kẻ có mắt thấy các sắc rõ ràng, người trí hiểu thấu đạo lý vi diệu”.

Rồi đức Thế Tôn nói lên bài kệ: Andhabhūto ayaṃ loko..v.v..appo saggāya gacchatī’ ti.

Dứt kệ ngôn, nàng chức nữ đắc quả dự lưu, và hội chúng hiện diện cũng gặt hái điều lời ích.

Nàng chức nữ ấy sau khi nghe pháp về nhà phụ giúp cha dệt vải, chẳng may chiều hôm ấy nàng bị tai nạn vì con thoi của khung dệt đâm vào ngực và mệnh chung sanh về cỏi Đâu Suất.

Cha của nàng buồn rầu và xin xuất gia chẳng bao chứng đắc A la hán.

Chánh văn:

(dhp 174)

8. Andhabhūto ayaṃ loko
tanuk’ ettha vipassati
sakunto jālamutto’ va
appo saggāya gacchati.

Thích văn:

Andhabhūto [ chủ cách, số ít, nam tính hợp thể tính từ andhabhūta (andha + bhūta)] tăm tối, mù quáng.
Ayaṃ [chủ cách, số ít, nam tính, đại từ ima. Ở đây xài như một tính từ đi với danh từ loko] nầy,(đời) nầy, (thế gian) nầy.
Loko [chủ cách, số ít, danh từ nam tính loka] đời, thế giới, thế gian.
Tanuk’ ettha [hợp âm tanuko ettha]
Tanuko [chủ cách, số ít, nam tính, tính từ tanuka] ít ỏi; ốm yếu.
Ettha [trạng từ] ở đây, đời nầy.
Vipassati [động từ tiến hành cách “vi + căn dis  + a”. ngôi III, số ít] thấy rõ, quán sát, minh sát.
Sakunto [chủ cách, số ít, danh từ nam tính sakunta] con chim, loài chim.
Jālamutto [chủ cách, số ít, nam tính hợp thể tính từ jālamutta (jāla + mutta)] thoát khỏi lưới.
‘va [iva. Bất biến từ tỷ giảo] như, ví như.
Appo [chủ cách, số ít, nam tính, tính từ appa, = tanuka] ít, ít ỏi.
Saggāya [chỉ định cách, số ít, danh từ nam tính sagga] cõi trời, thiên giới.
Gacchati [động từ tiến hành cách “căn gam  + a”, ngôi III, số ít] đi đến, đạt đến.

Việt văn:

(pc 174)

8. Thế gian nầy mù quáng
đời ít kẻ thấy, biết.
như chim thoát khỏi lưới
ít người đi thiên giới.

Chuyển văn:

Ayaṃ loko andhabhūto ettha tanuko vipassati jālamutto sakunto iva appo saggāya gacchati.

Thế gian nầy mù quáng, hiếm hoi kẻ thấy biết. Như chỉ vài con chim thoát khỏi lưới, ít người đi đến nhàn cảnh.

Lý giải:

Thế gian nầy mù quáng (andhabhūto ayaṃ loko) nghĩa là chúng sanh trong đời, phàm phu không có trí tuệ.

Đời ít kẻ thấy biết ( tanuko ettha vipassati) nghĩa là trong số chúng sanh phàm phu ấy, người thấy được vạn pháp hữu vi là vô thường, khổ, vô ngã…người như vậy không có nhiều.

Ít người đi thiên giới ( appo saggāya gacchati) nghĩa là chúng sanh phàm phu rất ít kẻ hành thiện nghiệp để đạt đến cõi vui, hoặc hành thánh đạo để đắc chứng níp bàn.

Như chim thoát khỏi lưới (sakunto jālamutto iva), đây là một thí dụ. Như trong một bầy chim bị mắc vào tấm lưới của thợ bẩy chim, thì chỉ một vài con chim là thoát ra được thôi, số chim còn lại mắc trong lưới thì nhiều.

 Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu.

@@@@@@@@@@@@@@@@@@

Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali

Quý vị vào link bên dưới để xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.

Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10

https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts

Gõ Tiếng Việt trên Windows 10

http://unikey.vn/vietnam/

 

 

-ooOoo- /span>