BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 03 tháng 08, 2024

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III - Chương I. Tương Ưng Uẩn. Phần II-Phẩm Hoa. (S, II, 381).
Bài 342. CÓ NHIỀU NHƯNG HƯỞNG BAO NHIÊU VÀ BAO LÂU?-
Kinh Phân Bò (Gomayapiṇḍasuttaṃ)
 ******

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Sự khao khát muôn đời của chúng sanh là muốn được những cái tốt nhất và có được thật nhiều. Đức Phật dạy nên suy xét dù có thật nhiều như một vị vua, kể cả chuyển luân vương, có hằng ngàn tuấn mã thì khi cưỡi chỉ một con thôi. Hơn thế nữa, cho dù có những cái tốt nhất ở đời thì bản thân đâu thể lột da sống đời mà hưởng mãi. Với sự quán chiếu bản chất vô thường của vạn hữu thì tất cả những giá trị phù hoa không hơn giá trị của mảnh phân bò khô.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Nhân duyên tại Sāvatthī. bấy giờ có một vị tỳ khưu ngồi một bên, bạch với Đức Thế Tôn:

_"Bạch Thế Tôn, có sắc nào là thường hằng, ổn định, vĩnh cửu, không chịu sự biến đổi, và sẽ tồn tại mãi mãi như chính sự vĩnh cửu không? Bạch Thế Tôn, có cảm thọ nào ... có tưởng nào ... có hành nào ... có thức nào là thường hằng, ổn định, vĩnh cửu, không chịu sự thay đổi, và sẽ tồn tại mãi mãi như chính sự vĩnh cửu không?"

 _"Này Tỳ khưu, không có sắc nào là thường hằng, ổn định, vĩnh cửu, không chịu sự thay đổi, và sẽ tồn tại mãi mãi như chính sự vĩnh cửu. Không có cảm thọ nào ... không có tưởng nào ... không có hành nào ... không có thức nào là thường hằng, ổn định, vĩnh cửu, không chịu sự thay đổi, và sẽ tồn tại mãi mãi như chính sự vĩnh cửu."

Sau đó, Đức Thế Tôn cầm một mảnh phân bò nhỏ trong tay và nói với vị tỳ khưu: "Này Tỳ khưu, ngay cả sự tồn tại của một cá thể cũng không phải là thường hằng, ổn định, vĩnh cửu, không chịu sự thay đổi, và sẽ tồn tại mãi mãi như chính sự vĩnh cửu. Nếu có sự tồn tại của một cá thể mà là thường hằng, ổn định, vĩnh cửu, không chịu sự thay đổi, thì cuộc sống phạm hạnh để hoàn toàn diệt khổ sẽ không thể được ghi nhận. Nhưng vì không có sự tồn tại của một cá thể nào là thường hằng, ổn định, vĩnh cửu, không chịu sự thay đổi, nên cuộc sống phạm hạnh để hoàn toàn diệt khổ mới được ghi nhận.

"Trong quá khứ, này tỳ khưu, ta từng là một vị vua dòng sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh.  . Ta có hằng ngàn thành phố, trong đó thành phố chính là thủ đô Kusāvatī. Ta có hằng ngàn cung điện, trong đó cung điện chính là cung điện tên Dhamma. Ta có hằng ngàn hội trường mái nhọn, trong đó hội trường chính là hội trường Mahābyūha. Ta có hằng ngàn giường nệm làm bằng ngà, gỗ lõi, vàng và bạc, trang trí bằng những tấm phủ lông dài, thêu hoa, với những tấm phủ lựa chọn làm từ da linh dương,  với màn che đỏ phía trên và gối đỏ ở hai đầu.

"Ta có hằng ngàn voi đực với đồ trang trí vàng và cờ vàng, che phủ bằng lưới vàng, trong đó voi đực chính là voi chúa Uposatha. Ta có hằng ngàn ngựa với đồ trang trí vàng và cờ vàng, che phủ bằng lưới vàng, trong đó ngựa chính là tuấn mã Valāhaka. Ta có hằng ngàn xe ngựa với đồ trang trí vàng và cờ vàng, che phủ bằng lưới vàng, trong đó xe ngựa chính là xe  Vejayanta.

"Ta có hằng ngàn ngọc, trong đó ngọc chính là viên ngọc bảo. Ta có hằng ngàn phụ nữ, trong đó  chính thất là hoàng hậu Subhaddā. Ta có hằng ngàn quan khattiya, trong đó quan chính là thống soái. Ta có hằng ngàn con bò với dây buộc bằng đay tốt và thùng sữa bằng đồng. Ta có hằng ngàn kho vải làm từ vải lanh tốt, lụa tốt, len tốt, bông tốt. Ta có hằng ngàn đĩa ăn mà bữa ăn của ta được dọn lên cả buổi sáng và buổi tối.

"Trong số hằng ngàn thành phố ấy, này tỳ khưu, chỉ có một thành phố mà ta ở thời đó là kinh đô Kusāvatī. Trong số hằng ngàn cung điện ấy,  chỉ có một cung điện mà ta ở thời đó: cung điện Dhamma. Trong số hằng ngàn hội trường mái nhọn ấy, chỉ có một hội trường mái nhọn mà ta ở thời đó: hội trường Mahābyūha. Trong số hằng ngàn giường nệm ấy, chỉ có một giường nệm mà ta sử dụng thời đó, làm bằng ngà, gỗ lõi, vàng hoặc bạc.

"Trong số hằng ngàn voi ấy, chỉ có một voi mà ta cưỡi thời đó, là tượng chúa Uposatha. Trong số hằng ngàn ngựa ấy, chỉ có một ngựa mà ta cưỡi thời đó, ngựa tuấn mã Valāhaka. Trong số hằng ngàn xe ngựa ấy, chỉ có một xe ngựa mà ta cưỡi thời đó, long xa Vejayanta.

"Trong số hằng ngàn phụ nữ ấy, chỉ có một phụ nữ mà phục vụ ta thời đó, hoặc là một thiếu nữ khattiya hoặc là một thiếu nữ velāmika. Trong số hằng ngàn kho vải ấy, chỉ có một bộ vải mà ta mặc thời đó, làm từ vải lanh tốt, lụa tốt, len tốt hoặc bông tốt. Trong số hằng ngàn đĩa ăn ấy, chỉ có một đĩa ăn mà ta ăn thời đó, chỉ với một phần cơm và món cà ri thượng vị.

"Vì vậy, này tỳ khưu, tất cả những hành ấy đã qua, đã diệt, đã biến đổi. Các hành là vô thường, tỳ khưu, các hành là không ổn định, các hành là không đáng tin cậy. Quá đủ để nhàm chán đối với tất cả hành, quá đủ để ly tham, quá đủ để giải thoát.

Chú Thích

Câu chuyện tiền thân của Đức Phật là một bậc chuyển luân vương đề cập trong bài kinh nầy chính là câu chuyện vua Mahāsudassana (Đại Thiện Kiến) trong Kinh số 17, Trường Bộ.

Con số “tám muôn bốn ngàn (84,000) - caturāsīti         sahassāni –“ là hư số trong Phạm ngữ được dùng như thành ngữ. Trong bản dịch nầy dùng cụm từ “hằng ngàn” chỉ cho “thật nhiều”.

Phật ngôn “Nếu có sự tồn tại của một cá thể mà là thường hằng, ổn định, vĩnh cửu, không chịu sự thay đổi, thì cuộc sống phạm hạnh để hoàn toàn diệt khổ sẽ không thể được ghi nhận” nên được hiểu “nếu có một mảy may pháp hữu vi là hằng hữu, không biến đổi thì cuộc tu sẽ không có giá trị”. Nói cách khác “Đời sống phạm hạnh có ý nghĩa thật sự vì tất cả các hành là vô thường, là khổ não, là vô ngã”.

Đức Phật thuật lại câu chuyện tiền thân để cho thấy hai điều: Thứ nhất, dầu có thật nhiều nhưng hưởng cũng chẳng bao nhiêu. Thứ hai, cho dù được cái tốt nhất thì cũng vô thường biến đổi.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 ____________________________________

Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu..

 

Sāvatthinidānaṃ.

Ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca:

Nhân duyên ở Sāvatthi …

Sau khi ngồi, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

“atthi nu kho, bhante, kiñci rūpaṃ yaṃ rūpaṃ niccaṃ dhuvaṃ sassataṃ avipariṇāmadhammaṃ sassatisamaṃ tatheva ṭhassati? Atthi nu kho, bhante, kāci vedanā yā vedanā niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṃ tatheva ṭhassati? Atthi nu kho, bhante, kāci saññā yā saññā …pe… atthi nu kho, bhante, keci saṅkhārā ye saṅkhārā niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṃ tatheva ṭhassanti? Atthi nu kho, bhante, kiñci viññāṇaṃ, yaṃ viññāṇaṃ niccaṃ dhuvaṃ sassataṃ avipariṇāmadhammaṃ sassatisamaṃ tatheva ṭhassatī”ti?

—Bạch Thế Tôn, có thể có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

Bạch Thế Tôn, có thể có thọ nào … có thể có tưởng nào … có thể có các hành nào … có thể có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?

“Natthi kho, bhikkhu, kiñci rūpaṃ, yaṃ rūpaṃ niccaṃ dhuvaṃ sassataṃ avipariṇāmadhammaṃ sassatisamaṃ tatheva ṭhassati. Natthi kho, bhikkhu, kāci vedanā … kāci saññā … keci saṅkhārā … kiñci viññāṇaṃ, yaṃ viññāṇaṃ niccaṃ dhuvaṃ sassataṃ avipariṇāmadhammaṃ sassatisamaṃ tatheva ṭhassatī”ti.

—Này Tỷ-kheo, không có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

Này Tỷ-kheo, không có thọ nào … không có tưởng nào … không có các hành nào … không có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.

Atha kho bhagavā parittaṃ gomayapiṇḍaṃ pāṇinā gahetvā taṃ bhikkhuṃ etadavoca:

“ettakopi kho, bhikkhu, attabhāvapaṭilābho natthi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṃ tatheva ṭhassati. Ettako cepi, bhikkhu, attabhāvapaṭilābho abhavissa nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, nayidaṃ brahmacariyavāso paññāyetha sammā dukkhakkhayāya. Yasmā ca kho, bhikkhu, ettakopi attabhāvapaṭilābho natthi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, tasmā brahmacariyavāso paññāyati sammā dukkhakkhayāya.

Rồi Thế Tôn lấy tay cầm lên một miếng phân bò và nói với Tỷ-kheo ấy:

—Này Tỷ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.

Nếu được một ngã thể nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thưòng hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Vì này Tỷ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ bé như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú; do vậy đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày.

Bhūtapubbāhaṃ, bhikkhu, rājā ahosiṃ khattiyo muddhāvasitto. Tassa mayhaṃ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītinagarasahassāni ahesuṃ kusāvatīrājadhānippamukhāni. Tassa mayhaṃ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītipāsādasahassāni ahesuṃ dhammapāsādappamukhāni. Tassa mayhaṃ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītikūṭāgārasahassāni ahesuṃ mahābyūhakūṭāgārappamukhāni. Tassa mayhaṃ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītipallaṅkasahassāni ahesuṃ dantamayāni sāramayāni sovaṇṇamayāni goṇakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni. Tassa mayhaṃ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītināgasahassāni ahesuṃ sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇaddhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni. Tassa mayhaṃ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītiassasahassāni ahesuṃ sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇaddhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni. Tassa mayhaṃ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītirathasahassāni ahesuṃ sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇaddhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni. Tassa mayhaṃ, bhikkhu, rañño sato khattiyassa muddhāvasittassa caturāsītimaṇisahassāni ahesuṃ maṇiratanappamukhāni. Tassa mayhaṃ, bhikkhu …pe… caturāsītiitthisahassāni ahesuṃ subhaddādevippamukhāni. Tassa mayhaṃ, bhikkhu …pe… caturāsītikhattiyasahassāni ahesuṃ anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni. Tassa mayhaṃ, bhikkhu …pe… caturāsītidhenusahassāni ahesuṃ dukūlasandānāni kaṃsūpadhāraṇāni. Tassa mayhaṃ, bhikkhu …pe… caturāsītivatthakoṭisahassāni ahesuṃ khomasukhumāni koseyyasukhumāni kambalasukhumāni kappāsikasukhumāni. Tassa mayhaṃ, bhikkhu …pe… caturāsītithālipākasahassāni ahesuṃ; sāyaṃ pātaṃ bhattābhihāro abhihariyittha.

Thuở xưa, này Tỷ-kheo, Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh. Khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 đô thị, và đô thị Kusāvātī là bậc nhất.

Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cung điện, và cung điện Dhamma là bậc nhất.

Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 trùng các, và trùng các Mahābyūha là bậc nhất.

Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 sàng tọa làm bằng ngà, làm bằng lõi cây, làm bằng vàng, làm bằng bạc, trải bằng nệm len có lông dài, trải bằng chăn len trắng, trải bằng chăn len thêu bông, trải nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, có lầu che phía trên và có gối chân màu đỏ cả hai đầu.

Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con voi với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và voi chúa Uposatha là bậc nhất.

Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 con ngựa với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và ngựa chúa Valāhaka là bậc nhất.

Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 cỗ xe, với những trang sức bằng vàng, với những cờ xí bằng vàng, bao bọc với những lưới bằng vàng, và cỗ xe Vejayanta là bậc nhất.

Này Tỷ-kheo, khi Ta là vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, Ta có 84.000 châu báu, và Ma-ni châu là bậc nhất.

Này Tỷ-kheo, khi Ta là … Ta có 84.000 phụ nữ, và hoàng hậu Subhaddā là bậc nhất.

Này Tỷ-kheo, khi Ta là … Ta có 84.000 chư hầu Sát-đế-lị, và Binh chủ báu là bậc nhất.

Này Tỷ-kheo, khi Ta là … Ta có 84.000 con bò cái, với những dây thừng bằng vải đay mịn màng, và chậu sữa bằng bạc.

Này Tỷ-kheo, khi Ta là … Ta có 84.000 áo bằng vải gai tinh tế, bằng vải lụa tinh tế, bằng vải len tinh tế, bằng vải bông tinh tế.

Này các Tỷ-kheo, khi Ta là … Ta có 84.000 dĩa bàn, và trên ấy các cơm sáng và cơm chiều được dọn lên.

Tesaṃ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā nagarasahassānaṃ ekaññeva taṃ nagaraṃ hoti yamahaṃ tena samayena ajjhāvasāmi—kusāvatī rājadhānī. Tesaṃ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā pāsādasahassānaṃ ekoyeva so pāsādo hoti yamahaṃ tena samayena ajjhāvasāmi—dhammo pāsādo. Tesaṃ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā kūṭāgārasahassānaṃ ekaññeva taṃ kūṭāgāraṃ hoti yamahaṃ tena samayena ajjhāvasāmi—mahābyūhaṃ kūṭāgāraṃ. Tesaṃ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā pallaṅkasahassānaṃ ekoyeva so pallaṅko hoti yamahaṃ tena samayena paribhuñjāmi—dantamayo vā sāramayo vā sovaṇṇamayo vā rūpiyamayo vā. Tesaṃ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā nāgasahassānaṃ ekoyeva so nāgo hoti yamahaṃ tena samayena abhiruhāmi—uposatho nāgarājā. Tesaṃ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā assasahassānaṃ ekoyeva so asso hoti yamahaṃ tena samayena abhiruhāmi—valāhako assarājā. Tesaṃ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā rathasahassānaṃ ekoyeva so ratho hoti yamahaṃ tena samayena abhiruhāmi—vejayanto ratho. Tesaṃ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā itthisahassānaṃ ekāyeva sā itthī hoti yā maṃ tena samayena paccupaṭṭhāti—khattiyānī vā velāmikā vā. Tesaṃ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā vatthakoṭisahassānaṃ ekaññeva taṃ vatthayugaṃ hoti yamahaṃ tena samayena paridahāmi—khomasukhumaṃ vā koseyyasukhumaṃ vā kambalasukhumaṃ vā kappāsikasukhumaṃ vā. Tesaṃ kho pana, bhikkhu, caturāsītiyā thālipākasahassānaṃ ekoyeva so thālipāko hoti yato nāḷikodanaparamaṃ bhuñjāmi tadupiyañca sūpeyyaṃ.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 đô thị ấy, đô thị Ta trú thời ấy là kinh đô Kusāvātī.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 cung điện ấy, cung điện Ta trú thời ấy là cung điện Dhamma.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 trùng các ấy, trùng các Ta trú là trùng các Mahābyūha.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 sàng tọa ấy, sàng tọa Ta thọ dùng thời ấy là sàng tọa bằng ngà, hay bằng lõi cây, hay bằng vàng, hay bằng bạc.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 con voi ấy, con voi Ta cưỡi thời ấy là voi chúa Uposatha.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 con ngựa ấy, con ngựa Ta cưỡi thời ấy là ngựa chúa Valāhaka.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 cỗ xe ấy, cỗ xe Ta cưỡi thời ấy là cỗ xe Vejayanta.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 phụ nữ ấy, phụ nữ hầu hạ Ta thời ấy là Khattiyāni hay Velāmikā.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 áo mặc ấy, đôi áo Ta mặc thời ấy, hoặc bằng vải gai tinh tế, hay bằng lụa tinh tế, hay bằng len tinh tế, hay bằng vải bông tinh tế.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong 84.000 dĩa bàn ấy, một dĩa bàn Ta dùng để ăn một phần (nālika) cơm, còn dĩa bàn thứ hai, Ta dùng để ăn đồ ăn tương đương.

Iti kho, bhikkhu, sabbe te saṅkhārā atītā niruddhā vipariṇatā. Evaṃ aniccā kho, bhikkhu, saṅkhārā. Evaṃ addhuvā kho, bhikkhu, saṅkhārā. Evaṃ anassāsikā kho, bhikkhu, saṅkhārā. Yāvañcidaṃ, bhikkhu, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṃ, alaṃ virajjituṃ, alaṃ vimuccitun”ti.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, tất cả các hành ấy là thuộc quá khứ, đoạn diệt, biến hoại.

Như vậy vô thường, này các Tỷ-kheo, là các hành. Như vậy không thường hằng, này các Tỷ-kheo, là các hành. Như vậy không thường trú, này các Tỷ-kheo, là các hành.

Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán đối với tất cả hành, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát.

 

-ooOoo-