(dhp 323)
4. Na hi etehi yānehi
gaccheyya agataṃ disaṃ
yathā’ ttanā sudantena
danto dantena gacchati.
Chuyển văn:
4. Na hi etehi yānehi agataṃ disaṃ gaccheyya yathā attanā
sudantena, danto dantena gacchati.
Thích văn:
Na
[phủ định từ] không, chẳng phải.
Hi [bất biến từ] quả
thật, thật vậy.
Etehi [sở dụng cách, số
nhiều, trung tính, đại từ eta]
do, bởi những thứ đó.
Yānehi [sở dụng cách, số
nhiều, trung tính, danh từ yāna]
do những phương tiện, bởi xe cộ.
Gaccheyya [động từ khả
năng cách, ba thì parassapada ngôi III, số ít, “căn
gam + a + eyya”] có thể
đi đến, có thể đạt đến.
Agataṃ [đối cách, số ít,
nữ tính, tính từ agata (a +
gata quá khứ phân từ của động từ
gacchati)] chỗ chưa từng
đến.
Disaṃ [đối cách, số ít,
nữ tính, danh từ disā]
hướng đi, phương hướng.
Yathā’ ttanā [hợp âm
yathā attanā]
Yathā [trạng từ] theo
như, như thể là.
Attanā [sở dụng cách, số
ít, nam tính, danh từ biệt ngữ
atta] do ta, bởi tự mình.
Sudantena [sở dụng cách,
số ít, nam tính, tính từ hợp thể
sudanta (su + danta quá
khứ phân từ của động từ dameti)]
bởi, do khéo điều phục.
Dantena [sở dụng cách,
số ít, nam tính, tính từ danta
(quá khứ phân từ của động từ
dameti)] bởi, do điều phục.
Gacchati [động từ tiến
hành cách, thì hiện tại, parassapada ngôi III, số ít, “căn
gam + a + ti”] đi đến,
đạt đến.
Việt văn:
(pc 323)
4. Không thể đến níp bàn
bằng phương tiện voi, ngựa
mà do khéo điều phục.
người điều phục, chứng đạt.
4. Thật vậy, không phải do các phương tiện voi bò đó mà
người có thể đi đến chỗ “chưa từng đến”, mà chính nhờ tự
mình khéo điều phục. Người tự điều sẽ chứng đạt bằng cách
điều phục.
Duyên sự:
Bài kệ nầy đức Phật thuyết ở Sāvatthi khi Ngài trú tại
Jetavanavihāra, vì chuyện vị tỳ kheo trước là tượng sự.
Có vị tỳ kheo trước kia là người huấn luyện voi. Một ngày
nọ, vị ấy đứng trên bờ sông Aciravatī với các tỳ kheo khác,
khi thấy một người huấn luyện voi đang cố gắng dạy con voi,
nhưng không thể dạy nó được.
Thấy vậy, vị tỳ khưu tượng sư nói lớn với các tỳ kheo đứng
gần đó, cố ý cho người huấn luyện voi kia nghe: “Các hiền
giả, loài voi có chỗ nhược, nếu đâm chọt vào chỗ nhược ấy
thì nó sẽ thuần phục dễ dàng”.
Người huấn luyện voi trộm nghe lời nói của vị tỳ kheo ấy,
liền làm theo như thế, đúng là hiệu quả, con voi bị đau nó
ngoan ngoãn làm theo động tác của người huấn luyện. Nên dễ
dàng thuần hóa con voi.
Các vị tỳ kheo đã trình bạch chuyện đó lên đức Thế Tôn, Ngài
cho gọi vị tỳ kheo ấy đến và hỏi chuyện hư thật thế nào? Tỳ
kheo ấy nhận là có thật đã gợi ý cho người huấn luyện voi
cách thuần phục con voi.
Nghe xong đức Phật quở trách tỳ kheo ấy: “Này tỳ kheo, lợi
ích gì cho ngươi với việc thuần hóa một con voi hay loài
khác để làm phương tiện? Hãy điều phục chính bản thân, bằng
sự tự điều phục có thể đạt đến chỗ “chưa từng đi”. Thật vậy,
không phải do phương tiện voi ngựa mà có thể đi đến chỗ
“chưa từng đến”. Nói xong, đức Phật đã thuyết bài kệ nầy: Na
hi etehi yānehi…v.v…danto dantena gacchatī’ ti.
Dứt pháp thoại, có nhiều vị tỳ kheo đắc được thánh quả.
Lý giải:
Người ta huấn luyện voi hay ngựa để cưỡi, làm phương tiện di
chuyển bằng voi gọi là hatthiyāna, phương tiện di chuyển
bằng ngựa gọi là assayāna. Dùng phương tiện di chuyển bằng
voi hay ngựa được thuần hóa để đi đến chổ kia chổ nọ, nhưng
không thể dùng những phương tiện ấy đi đến chổ chưa từng
đến.
Chỗ chưa từng đến (agataṃ disaṃ hay agatapubbaṃ ṭhānaṃ), ở
đây ám chỉ níp bàn (nibbānaṃ). Níp bàn dù là cứu cánh nhưng
níp bàn không phải là nơi chốn, là vị trí nào trong cõi đời
để đặt chân đến. Thế nên gọi níp là “chổ chưa từng đến” hay
“chổ không đi đến được”.
Mà do tự mình khéo điều phục (yathā attanā sudantena), nghĩa
là theo trình tự, trước hết thuần hóa các căn quyền
(pubbabhāge indriyadamena) tức là thu thúc nhãn quyền, nhĩ
quyền…v.v…Sau đó, tu tiến thánh đạo (aparabhāge
ariyamaggabhāvanāya) tức minh sát chứng sơ đạo, nhị đạo…v.v…
Người điều phục chứng đạt (danto dantena gacchati) nghĩa là
đạt đến níp bàn chỉ là người có trí, tự đào luyện, không
chấp thủ mới chứng đắc được./.