|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 22 tháng 08, 2024 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ XXIII. Phẩm Voi (Nāgavagga) Gồm 14 bài kệ với 8 duyên sự -Kệ số 9, 10, 11 (dhp 328, 329, 330)Chánh văn:
(dhp 328)
9. Sace labhetha nipakaṃ sahāyaṃ
(dhp 329)
10. No ce labhetha nipakaṃ sahāyaṃ
(dhp 330)
11. Ekassa caritaṃ seyyo
Chuyển văn:
9. Nipakaṃ saddhiṃcaraṃ sādhuvihāridhīraṃ sahāyaṃ sace
labhetha sabbāni parissayāni abhibhuyya tena attamano satīmā
careyya.
Thích văn:
Sace
[giới từ] nếu, nếu như.
Việt văn:
(pc 328)
9. Nếu được bạn đồng hành,
(pc 329)
10. Không được bạn đồng hành,
(pc 330)
11. Sống một mình tốt hơn!
9. Nếu có được người bạn đồng hành sáng suốt, nghị lực sống
hiền thiện, thì nên cùng với bạn ấy sau khi vượt qua mọi
khốn khó hãy sống hoan hỷ và niệm tỉnh.
10. Nếu không có được người bạn đồng hành sáng suốt, nghị
lực sống hiền thiện, thì nên bỏ đi như vua bỏ lại xứ sở đã
chinh phục, hãy sống một mình như voi chúa bỏ rừng voi.
11. Sống một mình tốt hơn, không cần kết bạn với kẻ ngu.
Sống độc hành ít phiền toái, như voi chúa bỏ rừng voi, và
không thể làm các điều xấu.
Duyên sự:
Ba bài kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú trong khu rừng
Rakkhita có voi chúa Pālileyyaka phục dịch.
Hạ thứ chín, đức Phật an cư tại Kosambi, trong thời gian nầy
các vị tỳ kheo ở Kosambi có sự bất hòa chia rẽ. Đức Phật
truyền dạy tôn giả Ānanda
hòa
giải không xong, đức Thế Tôn đích thân hòa giải các
tỳ kheo ấy cũng không hòa hợp.
Đức Thế Tôn sau mùa an cư đó, Ngài đã độc hành đi đến khu
rừng Rakkhita (vì trong khu rừng ấy đức Thế Tôn được voi
chúa Pālileyyaka hộ trì nên khu rừng mới có tên
Rakkhitavana). Hạ thứ mười, đức Thế Tôn an cư tại khu rừng
Rakkhita ấy.
Mãn mùa an cư có năm trăm vị tỳ kheo tứ phương đi đến tôn
giải Ānanda
tại
Kosambi và nói: “Thưa hiền giả Ānanda,
đã
lâu rồi chúng tôi không được nghe đức Thế Tôn thuyết pháp.
Lành thay, thưa hiền
Ānanda,
có thể nào chúng tôi được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp”.
Trưởng lão
Ānanda
bèn dẫn các tỳ kheo ấy đi đến khu rừng đó. Khi đến nơi,
trưởng lão suy nghĩ: “Đức Thế Tôn trú một mình suốt ba
tháng, sự xuất hiện với bấy nhiêu tỳ kheo là không thích
hợp”. Rồi Trưởng lão đã để chư tỳ kheo ở ngoài bìa rừng và
một mình đi vào khu rừng. Tượng chúa Pālileyyaka thấy có
người lạ tiến vào chổ đức Phật thì xông ra ngăn cản. Đức Thế
Tôn biết mới bảo voi chúa: “Pālileyya, hãy tránh qua! Đừng
ngăn cản người ấy! Đó là thị giả của ta”. Nó liền dừng lại
và để cho trưởng lão đi vào.
Trưởng lão Ānanda
đi đến nơi đức Thế Tôn đặt y tăng già_lê và bát dưới đất,
đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật hỏi:
“Nầy Ānanda,
ngươi
đến một mình à?”.
_ “Bạch Thế Tôn, con đến với năm trăm vị tỳ kheo. Chư tỳ
kheo đang ở ngoài bìa rừng chờ đợi”.
_ “Hãy gọi các tỳ kheo ấy!”.
Trưởng lão vâng lời đi trở ra gọi chư tỳ kheo vào. Bậc Đạo
sư tiếp đón ân cần chư tỳ kheo. Các vị tỳ kheo đảnh lễ bậc
Đạo sư và bạch hỏi: “Bạch Thế Tôn, Ngài là vị Phật thanh nhã
vừa là vị Sát đế lỵ thanh tú, suốt ba tháng Ngài sinh hoạt
một mình không ai phục dịch, có lẽ Ngài khổ sở lắm”.
_ “Này chư tỳ kheo, đã có voi Pālileyyaka làm mọi việc cho
ta. Quả thật, nếu không được bạn đồng hành sáng suốt, sống
hiền thiện thì tốt hơn thà sống một mình”. Nói xong, đức
Phật thuyết lên ba bài kệ: Sace labhetha nipakaṃ
sahāyaṃ…v.v…appossukko mātaṅgaraññe’ va nāgo’ ti.
Dứt pháp thoại, năm trăm tỳ kheo ấy chứng đắc quả vị A la
hán.
Lý giải:
Ba bài kệ nầy đức Phật thuyết cho đối tượng nghe pháp là năm
trăm vị tỳ kheo khách tăng, để an trú các vị vào quả A la
hán. Do đó cần phải cần phải hiểu theo ý nghĩa đặc biệt như
trong chú giải đã giải thích.
Đời sống vị xuất gia cũng có những người bạn đồng phạm hạnh
tốt để hổ trợ nhau tiến hóa. Nếu được người bạn đồng hành
sáng suốt, nghị lực sống hiền thiện thì nên cùng người bạn
ấy sau khi vượt qua mọi khốn khó, hãy sống hoan hỷ và niệm
tỉnh.
Gọi là sáng suốt (nipakaṃ) là người có trí tuệ cẩn trọng
(nepakkapaññāya samannāgataṃ), biết suy xét cân nhắc trong
hành vi và lời nói.
Gọi là nghị lực sống hiền thiện (sādhuvihāridhīraṃ) là người
có bản lãnh xây dựng cuộc sống hoàn hảo (bhaddakavihāriṃ
paṇḍitaṃ).
Gọi là cùng người ấy sau khi vượt qua khốn khó, hãy sống
hoan hỷ và niệm tỉnh (abhibhuyya sabbāni parissayāni careyya
tena attamano satimā), nghĩa là khi có được người bạn lành
hãy biết trân trọng tình bạn và cùng họ vượt qua mọi hiểm
nguy bất trắc để cùng sống.
Bằng như không có được người bạn đồng hành sáng suốt, nghị
lực sống hiền thiện, thì nên bỏ đi, như vua bỏ nước bại, và
hãy sống một mình như voi sống rừng voi.
Gọi là như vua bỏ nước bại (rājā’ va raṭṭhaṃ vijitaṃ pahāya)
là lấy điển tích vua Mahājanaka làm thí dụ. Vị vua ất đã
chinh phục lãnh thổ lướn, vua chán nản suy nghĩ: “có lợi ích
gì cho ta với việc cai trị vương quốc rộng lớn nầy chứ?”.
Rồi nhà vua đã từ bỏ xứ sở chinh phục ấy, một mình đi vào
rừng sâu xuất gia làm ẩn sĩ.
Gọi là như voi chúa bỏ rừng voi (mātaṅgaraññe’ va nāgo),
cũng là điển tích làm thí dụ cho sự độc hành. Tại một khu
rừng có tên là Mātaṅga, một khu rừng có đàn voi đông đúc,
được dẫn dắt bởi con voi chúa bản lĩnh khôn ngoan. Nhưng
thời gian sau voi chúa sau nghĩ: “Ta sống bị quấy rối bởi
những con voi tơ, bởi những voi con; Ta chỉ ăn những cỏ bị
đứt đọt, chúng ăn hết những nhánh cây do ta bẻ xuống, ta chỉ
uống nước bị chúng khuấy đục, khi ta lội qua sông thì những
con voi cái lội xuống cọ xát vào thân ta. Có lẽ ta nên lánh
xa bầy đàn và sống một mình thôi”. Voi chúa đã rời bỏ bầy
đàn trong khu rừng nầy, sống đơn độc thoải mái.
Sống một mình tốt hơn, không cần kết bạn với kẻ ngu. Sống
độc hành ít phiền toái như voi chúa bỏ rừng voi, và không
thể là các điều xấu.
Gọi là sống một mình hơn (ekassa caritaṃ seyyo), bởi vì sống
một mình có thể thành tựu giới hạnh, có thể hành đầu đà, có
thể hành thiền minh sát, có thể chứng đắc thiền định, đạo
quả.
Không cần kết bạn với kẻ ngu (natthi bāle sahāyatā), bởi vì
không nương tựa kẻ ngu mà thành tựu giới hạnh, hành đầu đà,
hành thiền minh sát, hay đắc chứng thiền định, đạo quả. Bởi
lý do đó, không cần kết bạn với kẻ ngu.
Sống độc hành ít phièn toái (eko care appossukko), tức là
khi sống chung với người bạn ngu si thiểu trí họ có những
hành vi, lời nói làm cho mình phiền lòng bởi kẻ ngu không có
pháp hiền trí, thà rằng sống một mình mà thoải mái an lạc
như voi chúa bỏ bầy đàn sống đơn độc không bị các con voi
quấy rối.
Và không thể làm các điều ác (na ca pāpāni kayirā), vì sống
một mình không va chạm với những người gây phiền toái nên
không có tâm sân giận để làm thân ác, khẩu ác dù chút ít. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/ |