|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 25 tháng 08, 2024 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ XXIII. Phẩm Voi (Nāgavagga) Gồm 14 bài kệ với 8 duyên sự -Kệ số 12, 13, 14 (dhp 331, 332, 333)Chánh văn:
(dhp 331)
12. Atthamhi jātamhi sukhā sahāyā
(dhp 332)
13. Sukhā matteyyatā loke
(dhp 333)
14. Sukhaṃ yāva jarā sīlaṃ
Chuyển văn:
12. Atthamhi jātamhi sahāyā sukhā itarītarena yā tuṭṭhī
sukhā jīvitasaṅkhayamhi puññaṃ sukhaṃ sabbassa dukkhassa
pahānaṃ sukhaṃ.
Thích văn:
Atthamhi
[định sở cách, số ít, nam tính, danh từ
attha] lúc hữu sự, khi
có nhu cầu, khi cần.
Việt văn:
(pc 331)
12. Vui thay, bạn lúc cần
(pc 332)
13. Vui thay, hiếu dưỡng mẹ
(pc 333)
14. Vui thay, giới đến già
12. Lúc hữu sự có bạn bè là an vui; Biết rằng lòng với cái
nầy hoặc cái kia là an vui; Lúc mạng chung có phước đã làm
là an vui; Chấm dứt mọi đau khổ là điều an vui.
13. Ở đời, hiếu dưỡng mẹ là điều an lạc; Hiếu dưỡng cha cũng
là điều an lạc; Ở đời, tôn kính bậc sa môn là điều an lạc;
Tôn kính bậc phạm chí cũng là điều an lạc.
14. Có giới lúc trẻ đến lúc già là an vui; có niềm tin được
an trú là an vui; có được trí tuệ là an vui; không làm các
việc ác là an vui.
Duyên sự:
Ba bài kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú tại vùng Hy mã
lạp sơn, trong am thất khu rừng cây, vì chuyện Ác ma muốn
quấy rồi Ngài.
Nghe rằng trong thời ấy các vị vua cai trị quốc độ áp bức
dân chúng. Bấy giờ đức Thế Tôn thấy dân chúng bị đàn áp bởi
những hình phạt của những vị vua phi pháp, với lòng bi mẫn
Ngài đã suy nghĩ như sau: “Có thể nào cai trị quốc độ theo
đúng pháp mà không có đánh đập, không có giết hại, không có
tranh thắng thua, không sầu muộn, không khiến sầu muộn
chăng?”.
Ác ma sau khi biết được suy nghĩ ấy của đức Thế Tôn, tưởng
rằng Ngài muốn cai trị quốc độ. Ác ma tính toán: “Nếu đức
Phật làm vua cai trị xứ sở sẽ có điều kiện sơ suất, như vậy
ta sẽ có cơ hội chọc phá Ngài”.
Nghĩ rồi, ác ma đi đến đức Phật và nói với Ngài: “Thế Tôn
hãy trị vì vương quốc! Thiện Thệ hãy trị vì vương quốc! Ngài
cai trị theo đúng pháp không có đánh đập, không có giết hại,
không có tranh thắng thua, không sầu muộc, không kiến cho
sầu muộn”.
Đức Phật nói với ác ma: “Nầy ác ma, người thấy gì ở ta mà
ngươi nói với ta như vậy?”.
Ác ma trở lời: “Bạch Thế Tôn, bốn thần túc đã được Thế Tôn
khéo tu tập. Bởi thế, nếu muốn, đức Thế Tôn có thể chú
nguyện ngọn núi hùng vĩ Himavā thành vàng, và tôi sẽ tạo nên
tài sản cho Ngài, Ngài sẽ trị vì vương quốc theo pháp”.
Được nghe nói vậy, đức Thế Tôn đã kích động ác ma với những
kệ ngôn nầy: Biến thành vàng, vàng ròng Cho đến nhiều gấp đôi Cũng không thỏa mãn được Tham vọng của một người Biết vậy nên hành trì”. _ “Ai đã thấy khổ đau Và nguyên nhân đau khổ Làm sao chúng sanh ấy Có thể khuynh hướng dục? Đã biết rõ sanh y Là trói buộc ở đời Chúng sanh nên học tập Để trừ sanh y ấy”.
Rồi ác ma sầu khổ thất vọng: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện thệ
đã biết ta”, liền biến mất tại chổ ấy. Có rất nhiều thiên
nhân tụ hợp nơi đó, vì lợi ích cho chư thiên, đức Phật
thuyết lên ba bài kệ: Atthamhi jātanhi sukhā
sahāyā…v.v…pāpānaṃ akaraṇaṃ sukhan’ ti.
Dứt kệ ngôn nhiều vị trời được chứng ngộ giáo pháp.
Lý giải:
Ác ma, hiểu sai về đức Phật, nói rõ ra là ác ma không hiểu
đức Phật. Đức Phật có tâm bi mẫn với dân chúng bị khổ vì
chính sách hà khắc của các vua vô đạo cai trị, nên Ngài suy
nghĩ: Có thể chăng, cai trị quốc độ đúng pháp mà không có
đánh đập, giết hại dân chúng…chỉ là ý nghĩ nhận xét thôi.
Nhưng ác ma lại cho rằng đức Phật muốn làm vua nên đến thúc
giục Ngài thực hiện. Thật là không biết trời cao đất dày!
Sau khi ác ma sầu khổ thất vọng biến mất khỏi chổ ấy, đức
Thế Tôn vì muốn lợi ích cho nhiều thiên nhân tụ hợp tại đấy
nên Ngài đã thuyết lên ba bài kệ nói về những điều an lạc
tinh thần, an vui tự tại.
Bài kệ thứ nhất, lúc hữu sự có bạn bè là an vui; Biết bằng
lòng với cái nầy hoặc cái kia là an vui; lúc mạng chung có
phước đã là an vui; Chấm dứt mọi đau khổ là điều an vui. Bốn
điều an vui ấy có ý nghĩa như sau:
Lúc hữu sự (Atthamhi jātamhi) là khi có hoạn nạn đau ốm hoặc
có việc phải nhờ người giúp sức mới làm được…Lúc hữu sự như
vậy mà có được bạn bè thân hữu giúp đỡ, làm chổ nương tựa
cho thì đó là niềm vui, là niềm an ủi.
Biết bằng lòng với cái nầy hoặc cái kia (tuṭṭhī yā
itarītarena) là tri túc, biết đủ với những thứ mà mình có
không cảm thấy thiếu muốn có thêm nữa. Người sống tri túc,
biết bằng lòng với những thứ mình có thì người ấy tâm nhẹ
nhàng an lạc.
Lúc mạng chung có phước (puññaṃ jīvitasaṅkhayamhi), nghĩa là
đối với người lúc bình sinh tạo được nhiều phước báu, khi
sắp chết cảnh thiện hiện ra, tâm cận tử bắt cảnh ấy tạo thức
tái sanh cỏi vui. Nên nói, lúc mạng chung có phước đã làm là
an vui.
Chấm dứt mọi khổ đau (sabbassa dukkhassa pahānaṃ), là chỉ
ngay quả vị A la hán, bậc A la hán đã hoàn toàn chấm dứt khổ
luân hồi (vaṭṭadukkhassa pahānaṃ), gọi là sự an lạc tuyệt
đối.
Bài kệ thứ hai, ở đời hiếu dưỡng mẹ và hiếu dưỡng cha là
điều an vui (matteyyatā petteyyatā sukhā loke), hai điều nầy
có ý nghĩa là sự phụng dưỡng cha mẹ (mātāpitūnaṃ
upaṭṭhānaṃ). Người con phụng dưỡng cha mẹ được các bậc trí
khen ngợi và thân hoại mạng chung được sanh cõi trời; Hơn
nữa, khi người con thực hành bổn phận đối với cha mẹ, nó sẽ
an vui vì nghĩ rằng ta là người hiếu hạnh, tròn bổn phận làm
con.
Ở đời, tôn kính các sa môn và tôn kính các bậc phạm chí, là
điều an lạc.
Gọi là các sa môn (samaṇa) là ám chỉ những bậc xuất gia,
những vị tu sĩ (pabbajitā). Tôn kính các sa môn (sāmaññatā)
là thực hành nghĩa vụ của người cư sĩ đối với các bậc tu
hành, như đối xử lịch sự, cúng dường tứ sự…
Gọi là các bậc phạm chí hay là bà la môn (brāhmaṇa) là ám
chỉ các bậc thánh đã bài trừ ác pháp (bāhitapāpā), tức chư
Toàn giác, chư Độc giác và chư Thinh văn giác, gọi là bậc
Hiền Thánh. Tôn kính phạm chí (brāhmaññatā) là thực hành
nghĩa cử đúng đắn đối với các bậc Thánh hiền ấy, như cung
kính đảnh lễ.
Sự kính lễ bậc đáng kính lễ như vậy sẽ đem lại nhiều công
đức phước báu cho người nên mới nói “sự tôn kính san môn,
tôn kính phạm chí, là điều an lạc”.
Bài kệ thứ ba,
Vui thay, giới đến già (sukhaṃ yāva jarā sīlaṃ) nghĩa là có
giữ giới từ lúc trẻ cho đến lúc tuổi già đó là niềm an lạc.
Vật trang điểm như vòng vàng bông tai hoặc như trang phục
vận mặc, có những trang sức trang phục hợp tuổi trẻ không
hợp tuổi già; hoặc hợp cho tuổi già mà không hợp với tuổi
trẻ; Nhưng giới hạnh thì thích hợp và chói sáng cho mọi lứa
tuổi, khi còn trẻ có giữ giới cho đến già cũng giữ giới ấy,
càng trú trong giới, tâm càng an vui vì không ân hận, không
ray rức.
Vui thay, tín an trú (sukhā saddhā patiṭṭhitā). Tín_saddhā
là niềm tin, là điểm tựa tinh thần. Tín an trú đem lại sự an
vui là chánh tín (sammāsaddhā), chứ không phải là tà tín
(micchāsaddha). Chánh tín là tin nhân, tin quả, tin nghiệp
báo, tin sự giác ngộ của đức Phật. Niềm tin như vậy mới là
điều an lạc.
Vui thay, đắc trí tuệ (sukho paññāya paṭilābho) là có được
trí hiệp thế và trí siêu thể, hoặc có được trí văn, trí tư
và trí tu…Người đạt được trí tuệ như vậy dẫn lối đi đến chổ
an vui, thoát khỏi khổ cảnh.
Vui thay, không làm ác (pāpānaṃ akaranaṃ sukhaṃ), có ý nghĩa
là người đã nhổ bổ gốc phiền não (kilesamūlasetughāta) nên
không còn làm các điều ác nữa. Điều đó là niềm hạnh phúc
nhất bởi không tạo nghiệp xấu, tâm được mát mẻ không bị đốt
nóng.
Như vậy, ba bài kệ đức Phật đã thuyết, gòm có mười hai sự
kiện an lạc cho chúng sanh./.
Dứt phẩm hai mươi ba
Phẩm voi @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/ |