|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 09 tháng 08, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
KINH VĂN
316. “ke nu kho, āvuso sāriputta, loke dhammavādino, ke loke
suppaṭipannā, ke loke sugatā”ti? “ye kho, āvuso, rāgappahānāya
dhammaṃ desenti, dosappahānāya dhammaṃ desenti, mohappahānāya
dhammaṃ desenti, te loke dhammavādino. ye kho, āvuso, rāgassa
pahānāya paṭipannā, dosassa pahānāya paṭipannā, mohassa pahānāya
paṭipannā, te loke suppaṭipannā. yesaṃ kho, āvuso, rāgo pahīno
ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṃ anuppādadhammo,
doso pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṃ
anuppādadhammo, moho pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato
anabhāvaṅkato āyatiṃ anuppādadhammo, te loke sugatā”ti.
“atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā etassa rāgassa dosassa
mohassa pahānāyā”ti? “atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā
etassa rāgassa dosassa mohassa pahānāyā”ti. “katamo, panāvuso,
maggo katamā paṭipadā etassa rāgassa dosassa mohassa
pahānāyā”ti? “ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo etassa
rāgassa dosassa mohassa pahānāya, seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi
sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo
sammāsati sammāsamādhi. ayaṃ kho, āvuso, maggo ayaṃ paṭipadā
etassa rāgassa dosassa mohassa pahānāyā”ti. “bhaddako, āvuso,
maggo bhaddikā paṭipadā, etassa rāgassa dosassa mohassa
pahānāya. alañca panāvuso sāriputta, appamādāyā”ti. tatiyaṃ.
“Thưa Hiền giả Sāriputta, ai là những bậc hoằng hoá chánh pháp
trong thế gian? Ai là người chân tu trong thế gian? Ai là những
bậc thiện thệ trong thế gian?”
[Tôn giả Sāriputta trả lời:]
“Này Hiền giả, những người dạy pháp để từ bỏ tham ái, để từ bỏ
thù hận, để từ bỏ si mê, họ là những bậc hoằng hóa chánh pháp
trong thế gian. Những người hành đạo để từ bỏ tham ái, để từ bỏ
thù hận, để từ bỏ si mê là những bậc chân tu trong thế gian.
Những người mà tham ái, thù hận và si mê đã được từ bỏ, cắt đứt
từ gốc rễ, tựa như thân cây cọ khiến không còn có thể mọc lại
lại trong tương lai là những bậc thiện thệ trong thế gian.”
“Nhưng này hiền giả, có con đường nào, có lối đi nào dẫn đến từ
bỏ tham ái, để từ bỏ thù hận, để từ bỏ si mê chăng?”
“Có con đường, hiền giả, có lối đi để từ bỏ tham ái, để từ bỏ
thù hận, để từ bỏ si mê ấy.”
“Vậy con đường ấy, lối đi ấy là gì, hiền giả?”
“Đó chính là Bát Chánh Đạo thánh thiện, này hiền giả, tức là:
Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng,
Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Đó là con đường, là lối
đi dẫn đến từ bỏ tham ái, để từ bỏ thù hận, để từ bỏ si mê.”
“Thật tuyệt diệu thay là con đường ấy, tuyệt diệu thay là hành
trình để từ bỏ tham ái, để từ bỏ thù hận, để từ bỏ si mê. Và như
vậy quá đủ để nỗ lực tu tập, thưa Hiền giả Sāriputta.”
Chú Thích
Từ ngữ dhammavādina nguyên nghĩa là “người thuyết pháp” nhưng ở
đây phải hiểu là người tuyên thuyết chánh phá hay truyền dạy
đúng chánh pháp.
Từ ngữ suppaṭipanno thường được dịch là bậc diệu hạnh, bậc thiện
hạnh, bậc hành trì chánh đạo tức là bậc chân tu.
Từ ngữ sugata thường được dịch là Thiện Thệ (viết hoa) chỉ cho
Đức Phật. Trong bài kinh nầy viết với số nhiều” sugatā” những
bậc thiện thệ (không viết hoa) chỉ chung cho chư vị thánh giả
viên mãn giác ngộ, nói cách khác là các bậc chứng đạo.
Cả ba mệnh đề “ai là những bậc hoằng hoá chánh pháp trong thế
gian? Ai là người chân tu trong thế gian? Ai là những bậc thiện
thệ trong thế gian?” đều liên quan tới “chánh đạo” có thể hiểu
là “ai thuyết chánh pháp? Ai hành trì chánh pháp? ai chứng đạt
chánh pháp?”. Tôn giả Sāriputta, một lần nữa, trả lời với nghĩa
“đoạn tận phiền não tham, sân, si”. Điều nầy cho thấy toàn bộ
phạm hạnh được Đức Phật truyền dạy xoay chung quanh trọng điểm
đoạn trừ phiền não nội tại.
Phần Sớ giải chỉ chú thích ngắn gọn bài kinh nầy cùng với 11 bài
kinh tiếp theo.
Sớ Giải
316-328. te loke sugatāti te rāgādayo pahāya gatattā suṭṭhu
gatāti sugatā. dukkhassa kho āvuso pariññatthanti vaṭṭadukkhassa
parijānanatthaṃ.
dukkhatāti dukkhasabhāvo. dukkhadukkhatātiādīsu dukkhasaṅkhāto
dukkhasabhāvo dukkhadukkhatā. sesapadadvayepi eseva nayo.
316-328.
"Dukkhassa kho āvuso pariññatthanti vaṭṭadukkhassa
parijānanatthaṃ."
"Dukkhatāti dukkhasabhāvo."
"Dukkhadukkhatātiādīsu dukkhasaṅkhāto dukkhasabhāvo
dukkhadukkhatā."
"Sesapadadvayepi eseva nayo."
III. Vị Thuyết Pháp (S.iv,252)
1-2) ...
3) -- Thưa Hiền giả, những ai là những vị thuyết thuận pháp ở
đời? Những ai là những vị khéo thực hành ở đời? Những ai là
những vị khéo đến ở đời?
4) -- Này Hiền giả, những ai thuyết pháp để đoạn tận tham, những
ai thuyết pháp để đoạn tận sân, những ai thuyết pháp để đoạn tận
si; những vị ấy là những vị thuyết thuận pháp ở đời.
5) Này Hiền giả, những ai thực hành đoạn tận tham, thực hành
đoạn tận sân, thực hành đoạn tận si; những vị ấy là những vị
khéo thực hành ở đời.
6) Những ai đoạn tận tham, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân
cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh
khởi trong tương lai; những ai đoạn tận sân, cắt đứt tận gốc rễ,
làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho
không thể sanh khởi trong tương lai; những ai đoạn tận si, cắt
đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể
tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những vị
ấy là những vị khéo đến ở đời.
7) -- Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn
tận tham, sân và si ấy?
-- Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận tham,
sân và si ấy.
8) -- Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến
đoạn tận tham, sân và si ấy?
-- Này Hiền giả, đây là Thánh đạo Tám ngành đưa đến đoạn tận
tham, sân và si ấy; tức là chánh tri kiến... chánh định. Này
Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến đoạn tận tham,
sân và si ấy.
9) -- Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo
lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy. Thật là vừa đủ, này Hiền
giả Sàriputta, để không phóng dật. -ooOoo- |