BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 09 tháng 08, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 38. Tương Ưng Jambukhādaka- SN 38.3. Bài 475. TUYÊN THUYẾT, VÀ TU CHỨNG CHÂN PHÁP - Kinh Bậc Hoằng Hoá Chánh Pháp (Dhammavādīpañhāsuttaṃ)
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-475.jpg

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngNói đến tu hành người ta thường liên tưởng đến tín ngưỡng. Tôn giáo thường là một hệ thống tín ngưỡng cồng kềnh chuyên chở nhiều triết lý, niềm tin khiến cho sự tu tập bản thân trở nên mờ nhạt. Con đường chuyển hoá đích thực phải tập chú vào mục đích “chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc” mà mục đích nầy chỉ có thể đạt được với sự đoạn tận phiền não nội tại. Cho dù đạt tới giáo phẩm hay địa vị nào trong đời nầy hoặc sanh vào thiên đường ở kiếp sau nhưng với tâm tư còn tham, sân, si thì vẫn còn tục luỵ. Đó là lý do Đức Phật không những dạy “làm lành, lánh dữ” mà còn “thanh tịnh hoá tâm ý”

KINH VĂN

316. “ke nu kho, āvuso sāriputta, loke dhammavādino, ke loke suppaṭipannā, ke loke sugatā”ti? “ye kho, āvuso, rāgappahānāya dhammaṃ desenti, dosappahānāya dhammaṃ desenti, mohappahānāya dhammaṃ desenti, te loke dhammavādino. ye kho, āvuso, rāgassa pahānāya paṭipannā, dosassa pahānāya paṭipannā, mohassa pahānāya paṭipannā, te loke suppaṭipannā. yesaṃ kho, āvuso, rāgo pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṃ anuppādadhammo, doso pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṃ anuppādadhammo, moho pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṃ anuppādadhammo, te loke sugatā”ti.

“atthi panāvuso, maggo atthi paṭipadā etassa rāgassa dosassa mohassa pahānāyā”ti? “atthi kho, āvuso, maggo atthi paṭipadā etassa rāgassa dosassa mohassa pahānāyā”ti. “katamo, panāvuso, maggo katamā paṭipadā etassa rāgassa dosassa mohassa pahānāyā”ti? “ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo etassa rāgassa dosassa mohassa pahānāya, seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. ayaṃ kho, āvuso, maggo ayaṃ paṭipadā etassa rāgassa dosassa mohassa pahānāyā”ti. “bhaddako, āvuso, maggo bhaddikā paṭipadā, etassa rāgassa dosassa mohassa pahānāya. alañca panāvuso sāriputta, appamādāyā”ti. tatiyaṃ.

“Thưa Hiền giả Sāriputta, ai là những bậc hoằng hoá chánh pháp trong thế gian? Ai là người chân tu trong thế gian? Ai là những bậc thiện thệ trong thế gian?”

[Tôn giả Sāriputta trả lời:]

“Này Hiền giả, những người dạy pháp để từ bỏ tham ái, để từ bỏ thù hận, để từ bỏ si mê, họ là những bậc hoằng hóa chánh pháp trong thế gian. Những người hành đạo để từ bỏ tham ái, để từ bỏ thù hận, để từ bỏ si mê là những bậc chân tu trong thế gian. Những người mà tham ái, thù hận và si mê đã được từ bỏ, cắt đứt từ gốc rễ, tựa như thân cây cọ khiến không còn có thể mọc lại lại trong tương lai là những bậc thiện thệ trong thế gian.”

“Nhưng này hiền giả, có con đường nào, có lối đi nào dẫn đến từ bỏ tham ái, để từ bỏ thù hận, để từ bỏ si mê chăng?”

“Có con đường, hiền giả, có lối đi để từ bỏ tham ái, để từ bỏ thù hận, để từ bỏ si mê ấy.”

“Vậy con đường ấy, lối đi ấy là gì, hiền giả?”

“Đó chính là Bát Chánh Đạo thánh thiện, này hiền giả, tức là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Đó là con đường, là lối đi dẫn đến từ bỏ tham ái, để từ bỏ thù hận, để từ bỏ si mê.”

“Thật tuyệt diệu thay là con đường ấy, tuyệt diệu thay là hành trình để từ bỏ tham ái, để từ bỏ thù hận, để từ bỏ si mê. Và như vậy quá đủ để nỗ lực tu tập, thưa Hiền giả Sāriputta.”

Chú Thích

Từ ngữ dhammavādina nguyên nghĩa là “người thuyết pháp” nhưng ở đây phải hiểu là người tuyên thuyết chánh phá hay truyền dạy đúng chánh pháp.

Từ ngữ suppaṭipanno thường được dịch là bậc diệu hạnh, bậc thiện hạnh, bậc hành trì chánh đạo tức là bậc chân tu.

Từ ngữ sugata thường được dịch là Thiện Thệ (viết hoa) chỉ cho Đức Phật. Trong bài kinh nầy viết với số nhiều” sugatā” những bậc thiện thệ (không viết hoa) chỉ chung cho chư vị thánh giả viên mãn giác ngộ, nói cách khác là các bậc chứng đạo.

Cả ba mệnh đề “ai là những bậc hoằng hoá chánh pháp trong thế gian? Ai là người chân tu trong thế gian? Ai là những bậc thiện thệ trong thế gian?” đều liên quan tới “chánh đạo” có thể hiểu là “ai thuyết chánh pháp? Ai hành trì chánh pháp? ai chứng đạt chánh pháp?”. Tôn giả Sāriputta, một lần nữa, trả lời với nghĩa “đoạn tận phiền não tham, sân, si”. Điều nầy cho thấy toàn bộ phạm hạnh được Đức Phật truyền dạy xoay chung quanh trọng điểm đoạn trừ phiền não nội tại.

Phần Sớ giải chỉ chú thích ngắn gọn bài kinh nầy cùng với 11 bài kinh tiếp theo.

Sớ Giải

316-328. te loke sugatāti te rāgādayo pahāya gatattā suṭṭhu gatāti sugatā. dukkhassa kho āvuso pariññatthanti vaṭṭadukkhassa parijānanatthaṃ. dukkhatāti dukkhasabhāvo. dukkhadukkhatātiādīsu dukkhasaṅkhāto dukkhasabhāvo dukkhadukkhatā. sesapadadvayepi eseva nayo.

316-328.
"Tā loke sugatā ti, tā rāgādayo pahāya gatattā suṭṭhu gatā ti sugatā."
Những người này là những người đã từ bỏ tham ái và những ác nghiệp, do đó, họ thật sự đã đạt đến sự giải thoát, là những người "khéo đi đến trạng thái chí thiện" hay những bậc thiện thệ (sugatā).

"Dukkhassa kho āvuso pariññatthanti vaṭṭadukkhassa parijānanatthaṃ."
Này Hiền giả, sự hiểu rõ về khổ đau là để nhận thức đúng về khổ, để thấy rõ bản chất của khổ trong vòng sinh tử.

"Dukkhatāti dukkhasabhāvo."
"Khổ" có nghĩa là bản chất của sự khổ.

"Dukkhadukkhatātiādīsu dukkhasaṅkhāto dukkhasabhāvo dukkhadukkhatā."
Trong các câu như "khổ là khổ", "khổ về khổ" có nghĩa là bản chất của khổ được gọi là khổ, đó là sự nhận thức rõ về khổ đau trong các trạng thái khác nhau.

"Sesapadadvayepi eseva nayo."
Các trường hợp còn lại cũng theo cách hiểu như vậy.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

III. Vị Thuyết Pháp (S.iv,252)

1-2) ...

3) -- Thưa Hiền giả, những ai là những vị thuyết thuận pháp ở đời? Những ai là những vị khéo thực hành ở đời? Những ai là những vị khéo đến ở đời?

4) -- Này Hiền giả, những ai thuyết pháp để đoạn tận tham, những ai thuyết pháp để đoạn tận sân, những ai thuyết pháp để đoạn tận si; những vị ấy là những vị thuyết thuận pháp ở đời.

5) Này Hiền giả, những ai thực hành đoạn tận tham, thực hành đoạn tận sân, thực hành đoạn tận si; những vị ấy là những vị khéo thực hành ở đời.

6) Những ai đoạn tận tham, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những ai đoạn tận sân, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những ai đoạn tận si, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; những vị ấy là những vị khéo đến ở đời.

7) -- Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy?

-- Này Hiền giả, có con đường, có đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy.

8) -- Này Hiền giả, con đường ấy là gì, đạo lộ ấy là gì đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy?

-- Này Hiền giả, đây là Thánh đạo Tám ngành đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy; tức là chánh tri kiến... chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy.

9) -- Này Hiền giả, hiền thiện là con đường, hiền thiện là đạo lộ đưa đến đoạn tận tham, sân và si ấy. Thật là vừa đủ, này Hiền giả Sàriputta, để không phóng dật.

-ooOoo-