|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 18 tháng 08, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 481. SỰ TRÓI BUỘC VÀ CÁI BỊ TRÓI BUỘC - Kinh Kiết Sử (Saṃyojanasuttaṃ) ....
Sự lãnh hội giáo pháp rất cần thực chứng trải nghiệm.
Thế nhưng vẫn có những trường hợp ngôn từ cần được chính danh,
và lý luận phải sắc bén. Bài kinh nầy khi nói về sự trói buộc
trong cuộc sống, một cư sĩ uyên thâm Phật Pháp đã nêu rõ chính
là phiền não dục tham chứ không phải căn hay cảnh cũng như hai
con bò bị ràng buộc lẫn nhau con bò nào cột con bò nào. Điểm mấu
chốt nầy rất quan trọng đối với hành giả để biết điểm nào cần
xoáy sâu khi tu tập.
343. ekaṃ samayaṃ sambahulā therā bhikkhū macchikāsaṇḍe
viharanti ambāṭakavane. tena kho pana samayena sambahulānaṃ
therānaṃ bhikkhūnaṃ pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkantānaṃ
maṇḍalamāḷe sannisinnānaṃ sannipatitānaṃ ayamantarākathā udapādi
— “‘saṃyojanan’ti vā, āvuso, ‘saṃyojaniyā dhammā’ti vā ime
dhammā nānatthā nānābyañjanā udāhu ekatthā byañjanameva
nānan”ti? tatrekaccehi therehi bhikkhūhi evaṃ byākataṃ hoti —
“‘saṃyojanan’ti vā, āvuso, ‘saṃyojaniyā dhammā’ti vā ime dhammā
nānatthā ceva nānābyañjanā cā”ti. ekaccehi therehi bhikkhūhi
evaṃ byākataṃ hoti — “‘saṃyojanan’ti vā, āvuso, ‘saṃyojaniyā
dhammā’ti vā ime dhammā ekatthā byañjanameva nānan”ti.
tena kho pana samayena citto gahapati migapathakaṃ anuppatto
hoti kenacideva karaṇīyena. assosi kho citto gahapati
sambahulānaṃ kira therānaṃ bhikkhūnaṃ pacchābhattaṃ
piṇḍapātapaṭikkantānaṃ maṇḍalamāḷe sannisinnānaṃ sannipatitānaṃ
ayamantarākathā udapādi — “‘saṃyojanan’ti vā, āvuso,
‘saṃyojaniyā dhammā’ti vā ime dhammā nānatthā nānābyañjanā udāhu
ekatthā byañjanameva nānan”ti? tatrekaccehi therehi bhikkhūhi
evaṃ byākataṃ — “‘saṃyojanan’ti vā, āvuso, ‘saṃyojaniyā
dhammā’ti vā ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā cā”ti.
ekaccehi therehi bhikkhūhi evaṃ byākataṃ ‘saṃyojanan’ti vā,
āvuso ‘saṃyojaniyā dhammā’ti vā ime dhammā ekatthā byañjanameva
nānanti. atha kho citto gahapati yena therā bhikkhū
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā there bhikkhū abhivādetvā ekamantaṃ
nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho citto gahapati there bhikkhū
etadavoca — “sutaṃ metaṃ, bhante, sambahulānaṃ kira therānaṃ
bhikkhūnaṃ pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkantānaṃ maṇḍalamāḷe
sannisinnānaṃ sannipatitānaṃ ayamantarākathā udapādi —
‘saṃyojanan’ti vā, āvuso, ‘saṃyojaniyā dhammā’ti vā ime dhammā
nānatthā nānābyañjanā udāhu ekatthā byañjanameva nānan”ti?
ekaccehi therehi bhikkhūhi evaṃ byākataṃ — “‘saṃyojanan’ti vā,
āvuso, ‘saṃyojaniyā dhammā’ti vā ime dhammā nānatthā ceva
nānābyañjanā cā”ti. ekaccehi therehi bhikkhūhi evaṃ byākataṃ
“‘saṃyojanan’ti vā, āvuso, ‘saṃyojaniyā dhammā’ti vā ime dhammā
ekatthā byañjanameva nānan”ti. “evaṃ, gahapatī”ti.
“‘saṃyojanan’ti vā, bhante, ‘saṃyojaniyā dhammā’ti vā ime
dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca. tena hi, bhante, upamaṃ vo
karissāmi. upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṃ
ājānanti. seyyathāpi, bhante, kāḷo ca balībaddo odāto ca
balībaddo ekena dāmena vā yottena vā saṃyuttā assu. yo nu kho
evaṃ vadeyya — ‘kāḷo balībaddo odātassa balībaddassa saṃyojanaṃ,
odāto balībaddo kāḷassa balībaddassa saṃyojanan’ti, sammā nu kho
so vadamāno vadeyyā”ti? “no hetaṃ, gahapati! na kho, gahapati,
kāḷo balībaddo odātassa balībaddassa saṃyojanaṃ, napi odāto
balībaddo kāḷassa baḷībaddassa saṃyojanaṃ; yena kho te ekena
dāmena vā yottena vā saṃyuttā taṃ tattha saṃyojanan”ti. “evameva
kho, bhante, na cakkhu rūpānaṃ saṃyojanaṃ, na rūpā cakkhussa
saṃyojanaṃ; yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo
taṃ tattha saṃyojanaṃ. na sotaṃ saddānaṃ... na ghānaṃ
gandhānaṃ... na jivhā rasānaṃ... na kāyo phoṭṭhabbānaṃ
saṃyojanaṃ, na phoṭṭhabbā kāyassa saṃyojanaṃ; yañca tattha
tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo taṃ tattha saṃyojanaṃ.
na mano dhammānaṃ saṃyojanaṃ, na dhammā manassa saṃyojanaṃ;
yañca tattha tadubhayaṃ paṭicca uppajjati chandarāgo taṃ tattha
saṃyojanan”ti. “lābhā te, gahapati, suladdhaṃ te, gahapati,
yassa te gambhīre buddhavacane paññācakkhu kamatī”ti. paṭhamaṃ.
1. Kiết sử
Một thuở nọ, nhiều vị trưởng lão tỳ khưu đang cư trú tại thị trấn
Macchikāsaṇḍa, trong khu rừng Xoài Hoang.
Lúc bấy giờ, sau khi đi khất thực về và thọ thực xong, các vị tỳ khưu tụ
tập tại giảng đường. Khi ngồi lại với nhau, một cuộc bàn luận
khởi lên:
– “Chư hiền hữu, ‘sự trói buộc’ và ‘những pháp bị trói buộc’: hai điều này
có khác nhau về ý nghĩa và cả cách diễn đạt, hay là cùng một ý
nghĩa, chỉ khác nhau ở cách diễn đạt thôi?”
Một số vị trưởng lão trả lời:
Nhưng một số vị khác lại nói:
Khi ấy, cư sĩ Citta có việc đi đến Migapathaka. Citta nghe tin:
Cư sĩ Citta liền đến chỗ các Trưởng lão, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và
thưa rằng:
Các tỳ khưu đáp:
Cư sĩ Citta nói:
“Ví như, thưa chư Tôn giả, một con bò đen và một con bò trắng bị buộc
chung bởi một ách gỗ. Có phải người ta sẽ nói đúng khi bảo: ‘Con
bò đen là kiết sử của con bò trắng, con bò trắng là kiết sử của
con bò đen’ không?”
Các tỳ khưu đáp:
“Cũng vậy, này chư hiền:
Các tỳ khưu hoan hỷ tán thán:
Chú Thích
Citta (còn gọi là Cittagahapati)Một vị trưởng giả, cư sĩ tại
Macchikāsanda, nơi ông giữ chức thủ khố (quản lý tài chính). Sau
này Đức Phật tuyên bố Citta là cư sĩ thù thắng nhất trong việc
giảng thuyết Giáo pháp (A.i.26).
Ngày ông sinh ra, khắp thành phố tràn ngập hoa muôn sắc dày tới đầu gối,
vì thế ông được đặt tên là Citta (“hoa sắc”).
Khi Tôn giả Mahānāma đến Macchikāsanda, Citta ưa thích phong thái của
ngài, liền thỉnh ngài đến vườn Ambātakārāma của mình và cho xây
cất một ngôi tinh xá. Tại đó, Tôn giả Mahānāma giảng cho ông bài
Salāyatana-vibhatti, và Citta chứng quả A-na-hàm.
Từ đó, nhiều vị tỳ khưu đến Ambātakārāma và nhận sự cúng dường của ông.
Trong số ấy có Isidatta, một người quen cũ của cư sĩ Citta; khi
bị nhận ra thân phận, Isidatta lặng lẽ rời đi. Mahānāma và
Mahaka cũng làm như vậy, sau khi đã biểu hiện thần thông theo
thỉnh cầu của cư sĩ Citta.
Tương ưng Citta (Saṃyutta Nikāya, S.iv.282 trở đi) ghi lại nhiều cuộc đối
thoại giữa Citta và các vị tỳ khưu, như Kāmabhū và Godatta. cư
sĩ Citta cũng từng tranh luận và bác bỏ quan điểm của Nigantha
Nātaputta (tức Ni Kiền Tử) và Acela Kassapa.
Một vị tỳ khưu tên Sudhamma thường trú tại Ambātakārāma và được Citta chăm
sóc. Một lần, khi hai vị Thánh đệ tử lớn (Xá Lợi Phất và Mục
Kiền Liên) cùng nhiều vị trưởng lão danh tiếng khác đến đó,
Citta mời thỉnh nhị vị trước,
rồi mới mời tỳ khưu Sudhamma. Sudhamma tự ái, trách cứ Cư sĩ
Citta nặng lời. Khi Đức
Phật biết chuyện, Ngài bảo tỳ khưu Sudhamma đến xin Citta tha
lỗi (Vin.ii.15tt; DhA.ii.74tt).
Một thời gian sau, cư sĩ Citta cùng hai ngàn người đến yết kiến Đức Phật,
mang theo năm trăm xe lễ vật. Khi ông phủ phục dưới chân Đức
Phật, hoa năm sắc từ trời rơi xuống. Đức Phật giảng cho ông bài
Salāyatana-vibhatti. Trong nửa tháng, ông liên tục cúng dường
Tăng đoàn, và chư thiên đã làm đầy xe của ông bằng châu báu các
loại (AA.i.210).
Khi gần lâm chung, cư sĩ Citta lâm bệnh. Nhiều
chư thiên đến khuyên ông phát nguyện sanh làm vua cõi trời,
nhưng ông từ chối, nói đó là vô thường. Thay vào đó, ông khuyên
dạy chư thiên và quyến thuộc về Đức Phật và Giáo pháp
(S.iv.302tt). Vì vậy, ông được xem là cư sĩ lý tưởng (A.i.88;
ii.164; iii.451).
Ông có một ngôi làng phú hộ tên là Migapattaka (SA.iii.93).
Trong thời Đức Phật Padumuttara, Citta từng khởi nguyện mong được đứng đầu
hàng cư sĩ thuyết pháp. Đến thời Đức Phật Kassapa, ông làm nghề
thợ săn. Một hôm, thấy một vị tỳ khưu trong khe núi, ông hoan hỷ
về nhà, chuẩn bị cơm và hái hoa mang đến cúng dường. Sau khi
dâng lễ, ông nguyện đời đời không thiếu của cải và được mưa hoa
rơi xuống. Trong cõi trời, ông vượt trội về dung nhan rực rỡ
(AA.i.209).
Dù không phải A-la-hán, Cư sĩ Citta có bốn loại tuệ phân tích
(patisambhidā) của một bậc hữu học (sekha) (Vsm.442).
Thuật ngữ chandarāgo là từ kép gồm chanda+rāga có nghĩa là ưa thích và
khao khát. Ở đây dịch là tham dục.
Nên lưu ý Cittasaṃyuttaṃ (Tương Ưng Citta) là phẩm sưu tập về gia chủ
Citta (danh từ riêng) nên không dịch là “Tương Ưng Tâm” như bản
dịch của Hoà Thượng Thích Minh Châu.
Sớ Giải
343. cittasaṃyuttassa paṭhame macchikāsaṇḍeti evaṃnāmake
vanasaṇḍe. ayamantarākathā udapādīti porāṇakattherā
atiracchānakathā honti, nisinnanisinnaṭṭhāne pañhaṃ
samuṭṭhāpetvā ajānantā pucchanti, jānantā vissajjenti, tena
nesaṃ ayaṃ kathā udapādi. migapathakanti evaṃnāmakaṃ attano
bhogagāmaṃ. so kira ambāṭakārāmassa piṭṭhibhāge hoti.
tenupasaṅkamīti “therānaṃ pañhaṃ vissajjetvā phāsuvihāraṃ katvā
dassāmī”ti cintetvā upasaṅkami. gambhīre buddhavacaneti
atthagambhīre ceva dhammagambhīre ca buddhavacane. paññācakkhu
kamatīti ñāṇacakkhu vahati pavattati.
343.
[41] Chương VII
Tương Ưng Tâm
-ooOoo-
I. Kiết Sử (S.iv,281)
1) Một thời, một số đông Tỷ-kheo trưởng lão trú ở
Macchikasanda, tại rừng Ambàtaka.
2) Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo trưởng lão, sau buổi ăn
đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn, và giữa
những vị này, câu chuyện sau đây được khởi lên:
-- Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; các pháp
này là khác nghĩa, khác ngôn từ, hay đồng nghĩa, chỉ khác ngôn
từ?
3) Ở đây, một số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời:
-- Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; các pháp
này là khác nghĩa, khác ngôn từ.
Một số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời:
-- Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; những pháp
này là đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ.
4) Lúc bấy giờ, cư sĩ Citta đi đến Migapathaka để làm một số
công việc phải làm.
5) Cư sĩ Citta được nghe có một số đông Tỷ-kheo trưởng lão,
sau buổi ăn đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn,
và giữa những vị này, câu chuyện sau đây được khởi lên: "Này chư
Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; các pháp này là khác
nghĩa, khác ngôn từ, hay đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ?" Một số
Tỷ-kheo trưởng lão trả lời: "Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp
bị kiết sử; những pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ". Một số
Tỷ-kheo trưởng lão trả lời: "Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp
bị kiết sử; những pháp này là đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ".
6) Rồi cư sĩ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão ấy; sau khi
đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.
7) Ngồi một bên, cư sĩ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng
lão:
-- Bạch chư Thượng tọa, (chúng con) được nghe có một số đông
Tỷ-kheo trưởng lão, sau buổi ăn đi khất thực trở về, ngồi tụ họp
tại ngôi nhà tròn, và giữa các vị này, khởi lên câu chuyện sau
đây: "Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; các pháp
này là khác nghĩa, khác ngôn từ, hay đồng nghĩa, chỉ khác ngôn
từ". Một số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời: "Này chư Hiền, kiết sử
hay các pháp bị kiết sử; những pháp này đồng nghĩa, chỉ khác
ngôn từ".
-- Có vậy, này Cư sĩ.
8) -- Bạch chư Thượng tọa, kiết sử hay các pháp bị kiết sử;
các pháp này là khác nghĩa và cũng khác ngôn từ. Bạch chư Thượng
tọa, con sẽ nói lên một ví dụ cho quý vị. Ở đây, một số người có
trí, nhờ ví dụ hiểu được ý nghĩa lời nói.
9) Bạch chư Thượng tọa, ví như một con bò đực đen và con bò
đực trắng được dính lại với nhau bởi một sợi dây hay một cái
ách. Nếu có người nói: "Con bò đực đen là kiết sử cho con bò đực
trắng, và con bò đực trắng là kiết sử cho con bò đực đen". Nói
như vậy có phải là nói một cách chơn chánh không?
-- Thưa không, này Cư sĩ. Này Cư sĩ, con bò đực đen không
phải là kiết sử của con bò đực trắng. Và con bò đực trắng cũng
không phải là kiết sử của con bò đực đen. Do vì chúng bị dính
bởi một sợi dây hay bởi một cái ách, ở đây chính cái ấy là kiết
sử.
10) -- Cũng vậy, bạch chư Thượng tọa, con mắt không phải là
trói buộc của các sắc; các sắc không phải là trói buộc của con
mắt. Và ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham gì, dục tham ấy
ở đây chính là trói buộc. Cái tai không phải là trói buộc của
các tiếng... Mũi không phải là trói buộc của các hương... Lưỡi
không phải là trói buộc của các vị... Thân không phải là trói
buộc của các xúc... Ý không phải là trói buộc của các pháp. Các
pháp cũng không phải là trói buộc của ý. Và ở đây, do duyên cả
hai khởi lên dục tham gì, dục tham ấy ở đây chính là trói buộc.
11) -- Lợi ích thay cho Ông, này Gia chủ! Khéo lợi ích thay
cho Ông, này Cư sĩ! Vì rằng tuệ nhãn của Ông tiếp tục (kamati)
lời dạy thâm sâu của đức Phật. -ooOoo- |