BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 20 tháng 08, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 40. Tương Ưng (gia chủ) Citta- SN 41.3.
Bài 483. NHỮNG LUẬN ĐIỂM ĐẾN TỪ NGÃ CHẤP - Kinh Isidatta II (Dutiya’isidattasuttaṃ) .

....
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-483.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Có những luận điểm thoạt nghe như mang đầy tính chất tôn giáo, triết học nhưng thực tế lại bắt nguồn từ thân kiến hay chấp ngã. Mười câu hỏi cổ điển ‘Thế giới là thường còn’ hoặc ‘Thế giới không thường còn’; hoặc ‘Thế giới là hữu biên’ hoặc ‘Thế giới là vô biên’; hoặc ‘sinh mạng và thể xác là một’ hoặc ‘Sinh mạng là một, thể xác là một khác’; hoặc ‘Như Lai tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai chẳng tồn tại mà cũng chẳng phải không tồn tại sau khi chết’ thật ra đến từ thân kiến “tôi là ai và sẽ ra sao (…), nỗi ám ảnh muôn thuở về sự tồn tại của chân ngã trong hiện tượng giới.

KINH VĂN:

345. ekaṃ samayaṃ sambahulā therā bhikkhū macchikāsaṇḍe viharanti ambāṭakavane. atha kho citto gahapati yena therā bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā there bhikkhū abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho citto gahapati there bhikkhū etadavoca — “adhivāsentu me, bhante therā, svātanāya bhattan”ti. adhivāsesuṃ kho therā bhikkhū tuṇhībhāvena. atha kho citto gahapati therānaṃ bhikkhūnaṃ adhivāsanaṃ viditvā uṭṭhāyāsanā there bhikkhū abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā pakkāmi. atha kho therā bhikkhū tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena cittassa gahapatissa nivesanaṃ tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṃsu.

atha kho citto gahapati yena therā bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā there bhikkhū abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho citto gahapati āyasmantaṃ theraṃ etadavoca — “yā imā, bhante thera, anekavihitā diṭṭhiyo loke uppajjanti — ‘sassato lokoti vā, asassato lokoti vā, antavā lokoti vā, anantavā lokoti vā, taṃ jīvaṃ taṃ sarīranti vā, aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīranti vā, hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā, na hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā. yāni cimāni dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni brahmajāle bhaṇitāni; imā nu kho, bhante, diṭṭhiyo kismiṃ sati honti, kismiṃ asati na hontī”ti?

evaṃ vutte, āyasmā thero tuṇhī ahosi. dutiyampi kho citto gahapati ... pe ... tatiyampi kho citto gahapati āyasmantaṃ theraṃ etadavoca — “yā imā, bhante thera, anekavihitā diṭṭhiyo loke uppajjanti — sassato lokoti vā, asassato lokoti vā, antavā lokoti vā, anantavā lokoti vā, taṃ jīvaṃ taṃ sarīranti vā, aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīranti vā, hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā, na hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā. yāni cimāni dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni brahmajāle bhaṇitāni; imā nu kho, bhante, diṭṭhiyo kismiṃ sati honti, kismiṃ asati na hontī”ti? tatiyampi kho āyasmā thero tuṇhī ahosi.

tena kho pana samayena āyasmā isidatto tasmiṃ bhikkhusaṅghe sabbanavako hoti. atha kho āyasmā isidatto āyasmantaṃ theraṃ etadavoca — “byākaromahaṃ, bhante thera, cittassa gahapatino etaṃ pañhan”ti? “byākarohi tvaṃ, āvuso isidatta, cittassa gahapatino etaṃ pañhan”ti. “evañhi tvaṃ, gahapati, pucchasi — ‘yā imā, bhante thera, anekavihitā diṭṭhiyo loke uppajjanti — sassato lokoti vā ... pe ...; imā nu kho, bhante, diṭṭhiyo kismiṃ sati honti, kismiṃ asati na hontī’”ti? “evaṃ, bhante”. “yā imā, gahapati, anekavihitā diṭṭhiyo loke uppajjanti — ‘sassato lokoti vā, asassato lokoti vā, antavā lokoti vā anantavā lokoti vā, taṃ jīvaṃ taṃ sarīranti vā, aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīranti vā, hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā, na hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā. yāni cimāni dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni brahmajāle bhaṇitāni; imā kho, gahapati, diṭṭhiyo sakkāyadiṭṭhiyā sati honti, sakkāyadiṭṭhiyā asati na hontī’”ti.

“kathaṃ pana, bhante, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti? “idha, gahapati, assutavā puthujjano ariyānaṃ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṃ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṃ attato samanupassati, rūpavantaṃ vā attānaṃ, attani vā rūpaṃ, rūpasmiṃ vā attānaṃ; vedanaṃ attato samanupassati ... pe ... saññaṃ... saṅkhāre... viññāṇaṃ attato samanupassati, viññāṇavantaṃ vā attānaṃ, attani vā viññāṇaṃ, viññāṇasmiṃ vā attānaṃ. evaṃ kho, gahapati, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti.

“kathaṃ pana, bhante, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti? “idha, gahapati, sutavā ariyasāvako ariyānaṃ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto sappurisānaṃ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto na rūpaṃ attato samanupassati, na rūpavantaṃ vā attānaṃ, na attani vā rūpaṃ, na rūpasmiṃ vā attānaṃ; na vedanaṃ... na saññaṃ... na saṅkhāre... na viññāṇaṃ attato samanupassati, na viññāṇavantaṃ vā attānaṃ, na attani vā viññāṇaṃ, na viññāṇasmiṃ vā attānaṃ. evaṃ kho, gahapati, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti.

“kuto, bhante, ayyo isidatto āgacchatī”ti? “avantiyā kho, gahapati, āgacchāmī”ti. “atthi, bhante, avantiyā isidatto nāma kulaputto amhākaṃ adiṭṭhasahāyo pabbajito? diṭṭho so āyasmatā”ti? “evaṃ, gahapatī”ti. “kahaṃ nu kho so, bhante, āyasmā etarahi viharatī”ti? evaṃ vutte, āyasmā isidatto tuṇhī ahosi. “ayyo no, bhante, isidatto”ti? “evaṃ, gahapatī”ti. “abhiramatu, bhante, ayyo isidatto macchikāsaṇḍe. ramaṇīyaṃ ambāṭakavanaṃ. ahaṃ ayyassa isidattassa ussukkaṃ karissāmi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan”ti. “kalyāṇaṃ vuccati, gahapatī”ti.

atha kho citto gahapati āyasmato isidattassa bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā there bhikkhū paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi. atha kho therā bhikkhū bhuttāvino onītapattapāṇino uṭṭhāyāsanā pakkamiṃsu. atha kho āyasmā thero āyasmantaṃ isidattaṃ etadavoca — “sādhu kho taṃ, āvuso isidatta, eso pañho paṭibhāsi. neso pañho maṃ paṭibhāsi. tenahāvuso isidatta, yadā aññathāpi evarūpo pañho āgaccheyya, taññevettha paṭibhāseyyā”ti. atha kho āyasmā isidatto senāsanaṃ saṃsāmetvā pattacīvaramādāya macchikāsaṇḍamhā pakkāmi. yaṃ macchikāsaṇḍamhā pakkāmi, tathā pakkantova ahosi, na puna paccāgacchīti. tatiyaṃ.

(Phần mở đầu như trong bài kinh trước, cho đến:)

Rồi Citta, vị cư sĩ, đến gần chư Tôn giả Trưởng lão, đảnh lễ các ngài, ngồi xuống một bên và bạch với vị Đại trưởng lão:

“Bạch Tôn giả, có nhiều quan điểm khởi lên ở đời: ‘Thế giới là thường còn’ hoặc ‘Thế giới không thường còn’; hoặc ‘Thế giới là hữu biên’ hoặc ‘Thế giới là vô biên’; hoặc ‘sinh mạng và thể xác là một’ hoặc ‘Sinh mạng là một, thể xác là một khác’; hoặc ‘Như Lai tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai chẳng tồn tại mà cũng chẳng phải không tồn tại sau khi chết’ — tất cả những quan điểm này cũng như sáu mươi hai kiến chấp được nói trong Kinh Phạm Võng. Bây giờ, khi cái gì hiện hữu thì những quan điểm ấy khởi lên? Khi cái gì không hiện hữu thì những quan điểm ấy không khởi lên?”

Khi điều này được nói ra, vị Đại trưởng lão vẫn im lặng. Lần thứ hai và lần thứ ba, Citta, vị cư sĩ, lặp lại cùng một câu hỏi, và lần thứ hai và lần thứ ba, vị Đại trưởng lão vẫn im lặng.

Bấy giờ, trong chúng Tăng, Tôn giả Isidatta là vị Tỳ khưu trẻ nhất. Rồi Tôn giả Isidatta nói với vị Đại trưởng lão: “Bạch Tôn giả, xin cho phép con trả lời câu hỏi của cư sĩ Citta.”

“Này hiền hữu Isidatta, hãy trả lời đi.”

“Này cư sĩ, ông có phải hỏi như vầy chăng: ‘Bạch Tôn giả, có nhiều quan điểm khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn”…—tất cả những quan điểm ấy cũng như sáu mươi hai kiến chấp được nói trong Kinh Phạm Võng. Khi cái gì hiện hữu thì những quan điểm ấy khởi lên? Khi cái gì không hiện hữu thì những quan điểm ấy không khởi lên?’”

“Đúng vậy, bạch Tôn giả.”

“Đối với những quan điểm khởi lên ở đời, này cư sĩ—‘Thế giới là thường còn’ … cùng với sáu mươi hai kiến chấp ấy: khi có thân kiến, những quan điểm ấy khởi lên; khi không có thân kiến, những quan điểm ấy không khởi lên.”

“Nhưng, bạch Tôn giả, thân kiến khởi lên thế nào?”

“Ở đây, này cư sĩ, kẻ phàm phu thiếu học hiểu, không kính trọng bậc Thánh, không tinh thông, không được huấn luyện trong Pháp của các ngài; không kính trọng bậc thiện tri thức, không tinh thông, không được huấn luyện trong Pháp của họ; vị ấy chấp sắc là tự ngã, hay tự ngã có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy chấp thọ là tự ngã … chấp tưởng là tự ngã … chấp hành là tự ngã … chấp thức là tự ngã, hay tự ngã có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Như vậy là thân kiến khởi lên.”

“Và, bạch Tôn giả, thân kiến không khởi lên thế nào?”

“Ở đây, này cư sĩ, bậc Thánh đệ tử có học hiểu, có kính trọng bậc Thánh, tinh thông và được huấn luyện trong Pháp của các ngài; có kính trọng bậc thiện tri thức, tinh thông và được huấn luyện trong Pháp của họ; vị ấy không chấp sắc là tự ngã, hay tự ngã có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy không chấp thọ là tự ngã … không chấp tưởng là tự ngã … không chấp hành là tự ngã … không chấp thức là tự ngã … hay tự ngã ở trong thức. Như vậy là thân kiến không khởi lên.”

“Bạch Tôn giả, ngài Isidatta xuất thân từ đâu?”

“Này cư sĩ, tôi từ xứ Avanti.”

“Bạch Tôn giả, ở Avanti có một thiện nam tử tên Isidatta, là bằng hữu chưa từng gặp mặt của chúng con, người ấy đã xuất gia. Ngài có từng gặp vị ấy không?”

“Có, này cư sĩ.”

“Bạch Tôn giả, hiện giờ vị ấy đang trú ở đâu?”

Khi điều này được nói ra, Tôn giả Isidatta giữ im lặng.

“Có phải chính ngài là Isidatta?”

“Đúng vậy, này cư sĩ.”

“Vậy xin Tôn giả Isidatta hoan hỷ ở lại vườn Xoài Hoang tại Macchikāsaṇḍa. Con sẽ tận tâm cúng dường Tôn giả Isidatta y áo, đồ ăn khất thực, chỗ ở, và các vật dụng trị bệnh.”

“Này cư sĩ, lời nói ấy đầy thịnh tình.”

Rồi Citta, vị cư sĩ, hoan hỷ, tùy hỷ với lời của Tôn giả Isidatta, đích thân phục vụ và thỏa mãn chư Tôn giả Trưởng lão với nhiều món ăn thượng vị khác nhau. Khi các Tôn giả Trưởng lão thọ thực xong, cất bát đi, các ngài rời khỏi chỗ ngồi và ra đi.

Rồi vị Đại trưởng lão nói với Tôn giả Isidatta: “Thật tốt, hiền hữu Isidatta, câu trả lời này đã khởi lên nơi hiền hữu. Câu trả lời ấy không khởi lên nơi ta. Do vậy, hiền hữu Isidatta, bất cứ khi nào có câu hỏi tương tự được nêu lên vào lúc khác, hiền hữu hãy giải thích rõ.”

Sau đó, Tôn giả Isidatta thu dọn chỗ ở của mình, rồi mang y bát rời khỏi Macchikāsaṇḍa. Khi ngài rời Macchikāsaṇḍa. Ngài đi luôn, và không bao giờ trở lại nữa.

Chú Thích

Cả Sớ giải lẫn Hâu Sớ giải  đều không đưa ra lời giải thích nào về việc ra đi đột ngột của Tôn giả Isidatta. Có thể ngài đã thấy được nguy hiểm trong danh vọng và sự tôn kính, nên đã chọn sống trong ẩn danh hoàn toàn.

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu không có đoạn sau cùng về sự ra đi của Tôn giả Isidatta

Sớ Giải

345. tatiye avantiyāti dakkhiṇāpathe avantiraṭṭhe. kalyāṇaṃ vuccatīti “catūhi paccayehi paṭijaggissāmī”ti vacanaṃ niddosaṃ anavajjaṃ vuccati tayā upāsakāti adhippāyena vadati.
345. Trong (bài kinh) thứ ba, “Avanti” tức là xứ Avanti ở miền Nam (Dakkhiṇāpatha).
Câu nói “là lời nói tốt lành (kalyāṇaṃ vuccati)” có nghĩa là: “Ta sẽ chăm sóc, cung cấp bằng bốn thứ vật dụng cần thiết” – lời nói ấy được gọi là không lỗi, không tỳ vết (niddosa, anavajja). Vị Trưởng lão (Isidatta) nói như thế là với ý nghĩa: “Này cư sĩ, ý định của ông thật tốt đẹp.”

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình 

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[41] Chương VII

Tương Ưng Tâm

-ooOoo-

III. Isidattà (2) (S.iv,285)

1) Một thời, một số đông Tỷ-kheo trưởng lão trú ở Macchikàsanda, tại rừng Ambàtaka.

2) Rồi gia chủ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:

-- Bạch chư Thượng tọa, mong rằng chư vị Trưởng lão ngày mai nhận lời mời dùng bữa ăn của con.

Các Tỷ-kheo trưởng lão im lặng nhận lời.

4) Rồi gia chủ Citta, sau khi biết các Tỷ-kheo trưởng lão đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão, thân phía hữu hướng về các vị ấy rồi ra đi.

5) Các Tỷ-kheo trưởng lão ấy, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của gia chủ Citta; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.

6) Rồi gia chủ Citta đi đến Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.

7) Ngồi một bên, gia chủ Citta bạch Tôn giả Thera:

-- Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: "Thế giới là thường còn, hay thế giới là không thường còn? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?". Lại có thêm 62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Bạch Thượng tọa, các tà kiến này do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt, chúng không có mặt?

Khi được nói vậy, Tôn giả Thera im lặng.

8) Lần thứ hai, gia chủ Citta...

9) Lần thứ ba, gia chủ Citta bạch Tôn giả Thera:

-- Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: "Thế giới là thường còn, hay thế giới là vô thường? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?" Lại có thêm 62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Bạch Thượng tọa, các tà kiến này do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt, chúng không có mặt?

Lần thứ ba, Tôn giả Thera giữ im lặng.

10) Lúc bấy giờ, Tôn giả Isidattà là Tỷ-kheo mới tu nhất trong chúng Tỷ-kheo ấy.

11) Rồi Tôn giả Isidattà thưa với Tôn giả Thera:

-- Bạch Thượng tọa, con xin trả lời câu hỏi ấy của gia chủ Citta.

-- Này Isidattà, hãy trả lời câu hỏi ấy của gia chủ Citta.

12) -- Này Gia chủ, có phải Ông hỏi như sau: "Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: 'Thế giới là thường còn...' Bạch Thượng tọa, các tà kiến này do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt, chúng không có mặt" chăng?

-- Thưa vâng, bạch Thượng tọa.

-- Này Gia chủ, một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: "Thế giới là thường còn, hay thế giới là vô thường? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?" Lại có thêm 62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Này Gia chủ, do thân kiến có mặt, nên các tà kiến này có mặt. Do thân kiến không có mặt, nên chúng không có mặt?

13) -- Bạch Thượng tọa, như thế nào là thân kiến có mặt?

-- Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân. Họ quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc... quán thọ như là tự ngã... tưởng... các hành... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Gia chủ, là thân kiến có mặt.

14) -- Và như thế nào, bạch Thượng tọa, là thân kiến không có mặt?

-- Ở đây, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử được thấy các bậc Thánh, thuần phục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, được thấy các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị ấy không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, không quán thọ... tưởng... hành... không quán thức như tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Gia chủ, là thân kiến không có mặt.

15) -- Bạch Thượng tọa, Tôn đức (Ayyo) Isidattà từ đâu đến?

-- Này Gia chủ, tôi từ Avanti đến.

-- Bạch Thượng tọa, tại Avanti, có một thiện nam tử tên Isidattà, một người bạn xa cách của chúng tôi, đã xuất gia tu hành?

-- Thưa phải, này Gia chủ.

-- Bạch Thượng tọa, hiện nay Tôn giả ấy ở đâu?

Khi được nói vậy, Tôn giả Isidattà im lặng.

-- Bạch Thượng tọa, có phải Tôn đức ấy là Isidattà chăng?

-- Thưa phải, này Gia chủ.

-- Vậy bạch Thượng tọa, Tôn đức Isidattà hãy thỏa thích ở tại Macchikàsanda. Khả ái là rừng Ambàtaka! Con sẽ hết sức cố gắng để cúng dường Tôn đức Isidattà với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.

-- Thật là lời nói chí thiện, này Gia chủ.

16) Rồi Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời nói của Tôn giả Isidattà, tự tay làm thỏa mãn, tự tay cúng dường các Tỷ-kheo trưởng lão với các món ăn thượng hạng loại cứng và loại mềm.

17) Rồi các Tỷ-kheo trưởng lão, sau khi ăn xong, rời tay khỏi bát, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

18) Rồi Tôn giả Thera nói với Tôn giả Isidattà:

-- Lành thay, này Hiền giả Isidattà, câu hỏi này đã được Hiền giả trả lời. Câu hỏi này không được ta trả lời. Này Hiền giả Isidattà, trong dịp khác, nếu câu hỏi tương tự khởi lên, Hiền giả hãy trả lời như vậy.

-ooOoo-