|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 21 tháng 08, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 484. CAO NHÂN GẶP KỲ NHÂN - Kinh Thần Lực Của Tôn giả Mahaka (Mahakapāṭihāriyasuttaṃ) . ....
Cư sĩ Citta là bậc thánh a na hàm với tứ tuệ phân
tích. Tôn giả Mahaka là bậc a la hán với thiền định và thần
thông. Cả hai đều thành tựu sở đắc lớn trong giáo pháp. Một
người thể hiện sự kính ngưỡng cao độ. Một người thì xem cung
kính, lợi đắc chỉ là những phù hoa làm vướng bận. Hành xử của họ
không dễ để hiểu đối với phàm tình. Hoá ra những cái lớn, nhỏ,
trọng, khinh giữa cuộc trầm luân chỉ là giọt sương đầu cảnh.
KINH VĂN:
346.
ekaṃ samayaṃ sambahulā therā bhikkhū macchikāsaṇḍe viharanti
ambāṭakavane. atha kho citto gahapati yena therā bhikkhū
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā there bhikkhū abhivādetvā ekamantaṃ
nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho citto gahapati there bhikkhū
etadavoca — “adhivāsentu me, bhante therā, svātanāya gokule
bhattan”ti. adhivāsesuṃ kho therā bhikkhū tuṇhībhāvena. atha kho
citto gahapati therānaṃ bhikkhūnaṃ adhivāsanaṃ viditvā
uṭṭhāyāsanā there bhikkhū abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā pakkāmi.
atha kho therā bhikkhū tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṃ
nivāsetvā pattacīvaramādāya yena cittassa gahapatino gokulaṃ
tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṃsu.
atha kho citto gahapati there bhikkhū paṇītena sappipāyāsena
sahatthā santappesi sampavāresi. atha kho therā bhikkhū
bhuttāvino onītapattapāṇino uṭṭhāyāsanā pakkamiṃsu. cittopi kho
gahapati ‘sesakaṃ vissajjethā’ti vatvā there bhikkhū piṭṭhito
piṭṭhito anubandhi. tena kho pana samayena uṇhaṃ hoti kuthitaṃ
{kuṭṭhitaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)}; te ca therā bhikkhū
paveliyamānena maññe kāyena gacchanti, yathā taṃ bhojanaṃ
bhuttāvino.
tena kho pana samayena āyasmā mahako tasmiṃ bhikkhusaṅghe
sabbanavako hoti. atha kho āyasmā mahako āyasmantaṃ theraṃ
etadavoca — “sādhu khvassa, bhante thera, sītako ca vāto
vāyeyya, abbhasampilāpo {abbhasaṃbilāpo (sī.), abbhasaṃvilāpo
(pī.)} ca assa, devo ca ekamekaṃ phusāyeyyā”ti.
“sādhu khvassa, āvuso mahaka, yaṃ sītako ca vāto vāyeyya,
abbhasampilāpo ca assa, devo ca ekamekaṃ phusāyeyyā”ti. atha kho
āyasmā mahako tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhari
{abhisaṅkhāsi (sī.)} yathā sītako ca vāto vāyi, abbhasampilāpo
ca assa {āsi (?)}, devo ca ekamekaṃ phusi. atha kho cittassa
gahapatino etadahosi — “yo kho imasmiṃ bhikkhusaṅghe sabbanavako
bhikkhu tassāyaṃ evarūpo iddhānubhāvo”ti. atha kho āyasmā mahako
ārāmaṃ sampāpuṇitvā āyasmantaṃ theraṃ etadavoca — “alamettāvatā,
bhante therā”ti? “alamettāvatā, āvuso mahaka! katamettāvatā,
āvuso mahaka! pūjitamettāvatā, āvuso mahako”ti. atha kho therā
bhikkhū yathāvihāraṃ agamaṃsu. āyasmāpi mahako sakaṃ vihāraṃ
agamāsi.
atha kho citto gahapati yenāyasmā mahako tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā āyasmantaṃ mahakaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.
ekamantaṃ nisinno kho citto gahapati āyasmantaṃ mahakaṃ
etadavoca — “sādhu me, bhante, ayyo mahako uttarimanussadhammaṃ
iddhipāṭihāriyaṃ dassetū”ti. “tena hi tvaṃ, gahapati, ālinde
uttarāsaṅgaṃ paññapetvā tiṇakalāpaṃ okāsehī”ti. “evaṃ, bhante”ti
kho citto gahapati āyasmato mahakassa paṭissutvā ālinde
uttarāsaṅgaṃ paññapetvā tiṇakalāpaṃ okāsesi. atha kho āyasmā
mahako vihāraṃ pavisitvā sūcighaṭikaṃ datvā tathārūpaṃ
iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhari yathā tālacchiggaḷena ca
aggaḷantarikāya ca acci nikkhamitvā tiṇāni jhāpesi, uttarāsaṅgaṃ
na jhāpesi. atha kho citto gahapati uttarāsaṅgaṃ papphoṭetvā
saṃviggo lomahaṭṭhajāto ekamantaṃ aṭṭhāsi. atha kho āyasmā
mahako vihārā nikkhamitvā cittaṃ gahapatiṃ etadavoca —
“alamettāvatā, gahapatī”ti?
“alamettāvatā, bhante
mahaka! katamettāvatā, bhante, mahaka! pūjitamettāvatā, bhante
mahaka! abhiramatu, bhante, ayyo mahako macchikāsaṇḍe. ramaṇīyaṃ
ambāṭakavanaṃ. ahaṃ ayyassa mahakassa ussukkaṃ karissāmi
cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan”ti.
“kalyāṇaṃ vuccati, gahapatī”ti. atha kho āyasmā mahako senāsanaṃ
saṃsāmetvā pattacīvaramādāya macchikāsaṇḍamhā pakkāmi. yaṃ
macchikāsaṇḍamhā pakkāmi, tathā pakkantova ahosi; na puna
paccāgacchīti. catutthaṃ.
Một thời, có một số vị trưởng lão Tỳ-kheo đang trú tại làng Macchikāsaṇḍa,
trong Lâm viên Xoài Hoang Dã. Bấy giờ, gia chủ Citta đến gần các
vị tỳ khưu cao hạ ấy, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên, và thưa
rằng:
Các vị tỳ khưu cao hạ im lặng nhận lời. Thấy
vậy, gia chủ Citta biết các ngài đã nhận lời, bèn từ chỗ ngồi
đứng dậy, đảnh lễ, rồi đi quanh bên hữu các ngài mà lui ra.
Khi đêm đã qua, sáng hôm sau, các vị tỳ khưu cao hạ đắp y, mang bát và
thượng y, đi đến chuồng bò của gia chủ Citta. Ở đó, các ngài
ngồi xuống nơi đã được sắp sẵn.
Rồi gia chủ Citta, tự tay mình, dâng lên và làm thỏa mãn các vị trưởng lão
Tỳ-kheo với món cháo sữa nấu bằng bơ. Khi các trưởng lão Tỳ-kheo
đã thọ thực xong và cất bát đi, các ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và
ra về.
Bấy giờ, gia chủ Citta bảo người hầu: “Hãy phân phát phần còn lại,” rồi
ông đi theo sát sau các vị trưởng lão Tỳ-kheo. Lúc ấy, tiết trời
oi bức, các vị trưởng lão đi mà cảm thấy như thân mình đang tan
chảy vì món ăn đã thọ dụng.
Khi ấy, trong Tăng chúng, Tôn giả Mahaka là vị Tỳ-kheo trẻ nhất. Tôn giả
Mahaka bèn thưa với vị trưởng lão thượng thủ: “Bạch Tôn giả, sẽ
thật tốt đẹp nếu có một làn gió mát thổi lên, mây kéo thành màn
che, và trời lất phất mưa.”
Vị trưởng lão thượng thủ đáp: “Lành thay, hiền hữu.”
Rồi Tôn giả Mahaka thực hiện một thần lực, khiến cho gió mát thổi lên, mây
kéo thành màn che, và trời lất phất mưa.
Lúc ấy, gia chủ Citta tự nghĩ: “Thần thông và uy lực như vậy lại thuộc về
vị Tỳ-kheo trẻ nhất trong Tăng chúng này!”
Rồi khi Tôn giả Mahaka trở về tinh xá, ngài thưa với vị trưởng lão thượng
thủ:
Các vị trưởng lão Tỳ-kheo trở về tịnh thất của mình, còn Tôn giả Mahaka
cũng trở về cốc của ngài.
Bấy giờ, gia chủ Citta đến gần Tôn giả Mahaka, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một
bên, và thưa:
ôn giả Mahaka bảo:
“Vâng, bạch Tôn giả,” gia chủ Citta đáp, rồi trải áo choàng trên hiên và
rải lên đó một bó cỏ.
Sau đó, khi đã vào cốc và then cửa lại, Tôn giả Mahaka thực hiện một thần
lực khiến cho ngọn lửa phụt ra từ lỗ khóa và khe cửa, đốt cháy
bó cỏ nhưng không làm hại đến áo choàng. Gia chủ Citta giũ áo
choàng, đứng sang một bên, vừa kinh ngạc thán phục.
Tôn giả Mahaka từ cốc bước ra và bảo gia chủ Citta:
Gia chủ thưa:“Đủ rồi, bạch Tôn giả Mahaka. Những gì đã được làm là đủ rồi,
bạch Tôn giả Mahaka, những gì đã được hiến cúng là đủ rồi. Xin
Đại đức Mahaka an trú nơi Lâm viên Xoài Hoang Dã khả ái tại
Macchikāsaṇḍa này. Con sẽ nhiệt tâm hộ trì Đại đức Mahaka với y
áo, thực phẩm, chỗ ở và dược phẩm trị bệnh.”
“Lành thay, gia chủ,” Tôn giả Mahaka đáp.
Rồi Tôn giả Mahaka thu dọn chỗ ở của mình, mang bát và y, rời khỏi
Macchikāsaṇḍa. Khi ngài rời Macchikāsaṇḍa. Ngài đi luôn, và
không bao giờ trở lại nữa. Sau đó,
Chú Thích
Tôn giả Mahaka, vị Tỳ-kheo trẻ nhất trong Tăng chúng, đã làm cho gió mát
thổi, mây che và mưa rơi để làm dịu nóng. Sau đó, theo lời thỉnh
cầu của cư sĩ Citta, ngài biểu hiện thần thông bằng cách tạo lửa
thiêu rơm mà không cháy áo. Sau sự kiện này, ngài rời khỏi
Macchikāsaṇḍa và không trở lại nữa. Sớ giải nói rằng Mahaka
không thích sự tôn sùng về thần thông, nên ngay khi cư sĩ Citta
bày tỏ muốn hộ trì, ngài lập tức bỏ đi để tránh sự ràng buộc.
Trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) – chương XII. Câu chuyện
của tôn giả Mahaka được trích như minh họa cho iddhi (thần
thông), cụ thể là khả năng phát sinh gió, mây, mưa nhờ
adhiṭṭhāna (định lực phát nguyện). Điều này cho thấy tôn giả
Mahaka được xem như một tấm gương điển hình về thần lực do thiền
định. Trong Chú giải Tăng chi bộ (AN Commentary) và Apadāna Một
số đoạn trong Apadāna (truyện tiền thân của các vị thánh đệ tử)
mà trong đó tôn giả Mahaka đời quá khứ đã từng cúng dường chư
Phật, và nhờ công đức đó mà đời này chứng A-la-hán và có thần
thông. Hình ảnh của ngài thường gắn với tinh thần buông bỏ, vô
nhiễm, hơn là chỉ thần thông.
Từ kuṭṭhitaṃ / kuthitaṃ / kikitaṃ là một hapax legomenon (từ hiếm, chỉ
xuất hiện duy nhất một lần trong kinh tạng). Nghĩa là: “cực kỳ
oi bức, nóng nực, gay gắt”, được dùng để miêu tả tình cảnh các
trưởng lão Tỳ-kheo sau khi thọ thực, đi trong cái nắng gay gắt
như “thân đang tan chảy”.Spk gloss nghĩa của nó là “cực kỳ gay
gắt, cực kỳ nóng bức” (atitikhiṇa), vì do nóng từ cát bên dưới
và mặt trời nóng phía trên.Chú giải Spk gọi đây là một thuật ngữ
chỉ xuất hiện duy nhất trong lời Phật (buddhavacana) được bảo
tồn trong Tam Tạng (Tipiṭaka) – tepiṭake buddhavacane
asambhinnapadam.
Chữ “thera” trong bài kinh không phải là tên người như trong bản dịch của
Hoà thượng Thích Minh Châu mà chỉ là nói về “những tỳ khưu từ 10
hạ trở lên”. Những vị thera không hẳn là già về tuổi đời, 31
tuổi vẫn có thể là thera. Không nên dịch là “trưởng lão” như
nhiều bản dịch do tác phẩm “Trưởng Lão Tăng Kệ” vì từ ngữ nầy
chỉ cho niên cao lạp trưởng cả tuồi đời và tuổi đạo.
Sớ Giải
346. catutthe sesakaṃ vissajjethāti tassa kira therehi saddhiṃyeva kaṃsathālaṃ pamajjitvā pāyāsaṃ vaḍḍhetvā adaṃsu. so bhuttapāyāso
therehiyeva saddhiṃ gantukāmo cintesi “ghare tāva upāsikā sesakaṃ vicāreti, idha panime
dāsakammakārā mayā avuttā na vicāressanti, evāyaṃ paṇītapāyāso nassissatī”ti
tesaṃ
anujānanto evamāha. kuthitanti kudhitaṃ, heṭṭhā santattāya vālikāya upari ātapena ca atitikhiṇanti attho. idaṃ pana tepiṭake buddhavacane
asambhinnapadaṃ. paveliyamānenāti paṭiliyamānena sādhu khvassa bhanteti “phāsuvihāraṃ karissāmi nesan”ti
cintetvā evamāha.
iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkharīti adhiṭṭhāniddhiṃ akāsi. ettha ca “mandamando sītakavāto vāyatu, abbhamaṇḍapaṃ katvā devo ekamekaṃ phusāyatū”ti evaṃ nānāparikammaṃ — “savāto devo
vassatū”ti evaṃ adhiṭṭhānaṃ ekatopi hoti. “savāto devo vassatūti ekatoparikammaṃ, mandamando sītakavāto
vāyatu, abbhamaṇḍapaṃ katvā devo ekamekaṃ phusāyatū”ti evaṃ nānāadhiṭṭhānaṃ hoti. vuttanayeneva nānāparikammaṃ nānādhiṭṭhānaṃ, ekato parikammaṃ ekato adhiṭṭhānampi hotiyeva. yathā
tathā karontassa pana pādakajjhānato vuṭṭhāya kataparikammassa parikammānantarena mahaggatādhiṭṭhānacitteneva taṃ ijjhati. okāsesīti
vippakiri.
(346. Catutthe …)
Giải thích về thần thông của Mahaka:
1.
Nhiều loại “parikamma”
(chuẩn bị) và “adhiṭṭhāna” (định lực, quyết định). Ví dụ: “Hãy có gió mát thổi nhẹ, hãy
tạo ra một vòm mây như chiếc lọng, và mưa hãy rơi từng giọt
một.” Đây gọi là nhiều chuẩn bị và nhiều định lực.
2.
Một loại đơn giản: chỉ cần phát nguyện một điều, như:
“Cho mưa rơi xuống kèm theo gió.”
[41] Chương VII
Tương Ưng Tâm
-ooOoo-
IV. Mahaka (S.iv,288)
1) Một thời, một số đông các Tỷ-kheo trưởng lão trú tại
Macchikàsanda, tại rừng Ambàtaka.
2) Rồi gia chủ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi
đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng
lão:
-- Bạch chư Thượng tọa, mong rằng chư vị trưởng lão ngày mai
nhận lời mời dùng bữa ăn của con.
Các Tỷ-kheo trưởng lão im lặng nhận lời.
4-5) (Như đoạn 4,5 của kinh trước).
6) Rồi gia chủ Citta tự tay làm cho thỏa mãn, tự tay cúng
dường các Tỷ-kheo trưởng lão với các món ăn thượng vị loại cứng
và loại mềm.
7) Các Tỷ-kheo trưởng lão sau khi ăn xong, rời tay khỏi bát,
từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi gia chủ Citta, sau khi nói:
"Hãy thâu lượm lại các đồ ăn dư tàn", liền đi theo sau lưng các
Tỷ-kheo trưởng lão.
8) Lúc bấy giời, trời nóng rất là gay gắt (kutthitam). Và
các Tỷ-kheo trưởng lão ấy đi với thân như bị chảy thành nước, vì
các vị ấy đã ăn bữa ăn đầy đủ.
9) Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahaka là vị mới tu nhất giữa chúng
Tỷ-kheo ấy. Rồi Tôn giả Mahaka thưa với Tôn giả Thera:
-- Lành thay, bạch Thượng tọa Thera, nếu có luồng gió mát
thổi, có cơn giông nổi lên, có mưa từng hột xuống.
-- Lành thay, này Hiền giả Mahaka, nếu có luồng gió mát
thổi, có cơn giông nổi lên, có mưa từng hột xuống.
10) Rồi Tôn giả Mahaka thực hành thần thông khiến cho gió
mát thổi, cơn giông nổi lên, có mưa từng hột xuống.
11) Rồi cư sĩ Citta suy nghĩ như sau: "Tỷ-kheo mới tu nhất
trong chúng Tỷ-kheo này lại có được thần thông lực như vậy".
12) Rồi Tôn giả Mahaka sau khi đến ngôi vườn (tịnh xá) liền
nói với Tôn giả Thera:
-- Bạch Thượng tọa Thera, như vậy là vừa rồi.
-- Như vậy là vừa rồi, này Hiền giả Mahaka. Làm như vậy là
vừa rồi, này Hiền giả Mahaka. Cúng dường như vậy là vừa rồi, này
Hiền giả Mahaka.
13) Rồi các Tỷ-kheo trưởng lão đi đến ngôi tịnh xá, còn Tôn
giả Mahaka đi đến tịnh xá của mình.
14) Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Mahaka; sau khi đến,
đảnh lễ Tôn giả Mahaka rồi ngồi xuống một bên.
15) Ngồi một bên, gia chủ Citta nói Tôn giả Mahaka:
-- Lành thay, bạch Thượng tọa, nếu Tôn đức Mahaka thị hiện
cho con thấy thượng nhân pháp thần thông.
-- Vậy này Gia chủ, hãy trải thượng y trong hành lang và rải
một bó cỏ.
-- Thưa vâng, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta vâng đáp Tôn giả Mahaka, cho trải thượng y
trong hành lang, và rải một bó cỏ.
16) Rồi Tôn giả Mahaka vào trong tịnh xá, gài then cửa lại,
thực hành thần thông lực khiến cho ngọn lửa phun ra từ lỗ ống
khóa và giữa các khe cửa, đốt cháy cỏ nhưng không đốt cháy
thượng y.
17) Gia chủ Citta đập thượng y, hoảng hốt, lông tóc dựng
ngược, đứng một bên.
18) Rồi Tôn giả Mahaka, từ tịnh xá đi ra và nói với gia chủ
Citta:
-- Thôi, như vậy là vừa rồi, này Gia chủ.
-- Thôi, như vậy là vừa rồi, thưa Thượng tọa Mahaka. Làm như
vậy là vừa rồi, thưa Thượng tọa Mahaka. Cúng dường như vậy là
vừa rồi, thưa Thượng tọa Mahaka. Bạch Thượng tọa, mong Tôn đức
Mahaka hãy sống thoải mái ở tại Macchikàsanda. Khả ái là rừng
Ambàtaka! Con sẽ cố gắng cúng dường cho Tôn giả Mahaka các vật
dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
-- Thật là lời nói chí thiện, này Gia chủ!
19) Rồi Tôn giả Mahaka dọn dẹp sàng tọa, cầm y bát, đi ra
khỏi Macchikàasanda, và như vậy từ biệt Macchikàsanda không còn
trở lui lại nữa. -ooOoo- |