BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 21 tháng 08, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 40. Tương Ưng (gia chủ) Citta- SN 41.4.
Bài 484. CAO NHÂN GẶP KỲ NHÂN - Kinh Thần Lực Của Tôn giả Mahaka (Mahakapāṭihāriyasuttaṃ) .

....
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-484.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Cư sĩ Citta là bậc thánh a na hàm với tứ tuệ phân tích. Tôn giả Mahaka là bậc a la hán với thiền định và thần thông. Cả hai đều thành tựu sở đắc lớn trong giáo pháp. Một người thể hiện sự kính ngưỡng cao độ. Một người thì xem cung kính, lợi đắc chỉ là những phù hoa làm vướng bận. Hành xử của họ không dễ để hiểu đối với phàm tình. Hoá ra những cái lớn, nhỏ, trọng, khinh giữa cuộc trầm luân chỉ là giọt sương đầu cảnh.

KINH VĂN:

 346. ekaṃ samayaṃ sambahulā therā bhikkhū macchikāsaṇḍe viharanti ambāṭakavane. atha kho citto gahapati yena therā bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā there bhikkhū abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho citto gahapati there bhikkhū etadavoca — “adhivāsentu me, bhante therā, svātanāya gokule bhattan”ti. adhivāsesuṃ kho therā bhikkhū tuṇhībhāvena. atha kho citto gahapati therānaṃ bhikkhūnaṃ adhivāsanaṃ viditvā uṭṭhāyāsanā there bhikkhū abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā pakkāmi. atha kho therā bhikkhū tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena cittassa gahapatino gokulaṃ tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṃsu.

atha kho citto gahapati there bhikkhū paṇītena sappipāyāsena sahatthā santappesi sampavāresi. atha kho therā bhikkhū bhuttāvino onītapattapāṇino uṭṭhāyāsanā pakkamiṃsu. cittopi kho gahapati ‘sesakaṃ vissajjethā’ti vatvā there bhikkhū piṭṭhito piṭṭhito anubandhi. tena kho pana samayena uṇhaṃ hoti kuthitaṃ {kuṭṭhitaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)}; te ca therā bhikkhū paveliyamānena maññe kāyena gacchanti, yathā taṃ bhojanaṃ bhuttāvino.

tena kho pana samayena āyasmā mahako tasmiṃ bhikkhusaṅghe sabbanavako hoti. atha kho āyasmā mahako āyasmantaṃ theraṃ etadavoca — “sādhu khvassa, bhante thera, sītako ca vāto vāyeyya, abbhasampilāpo {abbhasaṃbilāpo (sī.), abbhasaṃvilāpo (pī.)} ca assa, devo ca ekamekaṃ phusāyeyyā”ti.

“sādhu khvassa, āvuso mahaka, yaṃ sītako ca vāto vāyeyya, abbhasampilāpo ca assa, devo ca ekamekaṃ phusāyeyyā”ti. atha kho āyasmā mahako tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhari {abhisaṅkhāsi (sī.)} yathā sītako ca vāto vāyi, abbhasampilāpo ca assa {āsi (?)}, devo ca ekamekaṃ phusi. atha kho cittassa gahapatino etadahosi — “yo kho imasmiṃ bhikkhusaṅghe sabbanavako bhikkhu tassāyaṃ evarūpo iddhānubhāvo”ti. atha kho āyasmā mahako ārāmaṃ sampāpuṇitvā āyasmantaṃ theraṃ etadavoca — “alamettāvatā, bhante therā”ti? “alamettāvatā, āvuso mahaka! katamettāvatā, āvuso mahaka! pūjitamettāvatā, āvuso mahako”ti. atha kho therā bhikkhū yathāvihāraṃ agamaṃsu. āyasmāpi mahako sakaṃ vihāraṃ agamāsi.

atha kho citto gahapati yenāyasmā mahako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ mahakaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho citto gahapati āyasmantaṃ mahakaṃ etadavoca — “sādhu me, bhante, ayyo mahako uttarimanussadhammaṃ iddhipāṭihāriyaṃ dassetū”ti. “tena hi tvaṃ, gahapati, ālinde uttarāsaṅgaṃ paññapetvā tiṇakalāpaṃ okāsehī”ti. “evaṃ, bhante”ti kho citto gahapati āyasmato mahakassa paṭissutvā ālinde uttarāsaṅgaṃ paññapetvā tiṇakalāpaṃ okāsesi. atha kho āyasmā mahako vihāraṃ pavisitvā sūcighaṭikaṃ datvā tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhari yathā tālacchiggaḷena ca aggaḷantarikāya ca acci nikkhamitvā tiṇāni jhāpesi, uttarāsaṅgaṃ na jhāpesi. atha kho citto gahapati uttarāsaṅgaṃ papphoṭetvā saṃviggo lomahaṭṭhajāto ekamantaṃ aṭṭhāsi. atha kho āyasmā mahako vihārā nikkhamitvā cittaṃ gahapatiṃ etadavoca — “alamettāvatā, gahapatī”ti?

 “alamettāvatā, bhante mahaka! katamettāvatā, bhante, mahaka! pūjitamettāvatā, bhante mahaka! abhiramatu, bhante, ayyo mahako macchikāsaṇḍe. ramaṇīyaṃ ambāṭakavanaṃ. ahaṃ ayyassa mahakassa ussukkaṃ karissāmi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan”ti. “kalyāṇaṃ vuccati, gahapatī”ti. atha kho āyasmā mahako senāsanaṃ saṃsāmetvā pattacīvaramādāya macchikāsaṇḍamhā pakkāmi. yaṃ macchikāsaṇḍamhā pakkāmi, tathā pakkantova ahosi; na puna paccāgacchīti. catutthaṃ.

Một thời, có một số vị trưởng lão Tỳ-kheo đang trú tại làng Macchikāsaṇḍa, trong Lâm viên Xoài Hoang Dã. Bấy giờ, gia chủ Citta đến gần các vị tỳ khưu cao hạ ấy, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên, và thưa rằng:
“Bạch chư Tôn giả, xin Tôn đức hoan hỷ nhận lời thỉnh của con để ngày mai thọ thực tại chuồng bò của con.”

Các vị tỳ khưu cao hạ im lặng nhận lời. Thấy vậy, gia chủ Citta biết các ngài đã nhận lời, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ, rồi đi quanh bên hữu các ngài mà lui ra.

Khi đêm đã qua, sáng hôm sau, các vị tỳ khưu cao hạ đắp y, mang bát và thượng y, đi đến chuồng bò của gia chủ Citta. Ở đó, các ngài ngồi xuống nơi đã được sắp sẵn.

Rồi gia chủ Citta, tự tay mình, dâng lên và làm thỏa mãn các vị trưởng lão Tỳ-kheo với món cháo sữa nấu bằng bơ. Khi các trưởng lão Tỳ-kheo đã thọ thực xong và cất bát đi, các ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.

Bấy giờ, gia chủ Citta bảo người hầu: “Hãy phân phát phần còn lại,” rồi ông đi theo sát sau các vị trưởng lão Tỳ-kheo. Lúc ấy, tiết trời oi bức, các vị trưởng lão đi mà cảm thấy như thân mình đang tan chảy vì món ăn đã thọ dụng.

Khi ấy, trong Tăng chúng, Tôn giả Mahaka là vị Tỳ-kheo trẻ nhất. Tôn giả Mahaka bèn thưa với vị trưởng lão thượng thủ: “Bạch Tôn giả, sẽ thật tốt đẹp nếu có một làn gió mát thổi lên, mây kéo thành màn che, và trời lất phất mưa.”

Vị trưởng lão thượng thủ đáp: “Lành thay, hiền hữu.”

Rồi Tôn giả Mahaka thực hiện một thần lực, khiến cho gió mát thổi lên, mây kéo thành màn che, và trời lất phất mưa.

Lúc ấy, gia chủ Citta tự nghĩ: “Thần thông và uy lực như vậy lại thuộc về vị Tỳ-kheo trẻ nhất trong Tăng chúng này!”

Rồi khi Tôn giả Mahaka trở về tinh xá, ngài thưa với vị trưởng lão thượng thủ:
“Bạch Tôn giả, như thế này đã đủ chưa?”Vị trưởng lão đáp: “Đủ rồi, hiền hữu Mahaka. Những gì đã được làm là đủ rồi, hiền hữu Mahaka, những gì đã được hiến cúng là đủ rồi.”

Các vị trưởng lão Tỳ-kheo trở về tịnh thất của mình, còn Tôn giả Mahaka cũng trở về cốc của ngài.

Bấy giờ, gia chủ Citta đến gần Tôn giả Mahaka, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên, và thưa:
“Bạch Tôn giả, sẽ là điều tốt đẹp nếu Đại đức Mahaka biểu hiện cho con thấy một phép lạ siêu nhân của thần lực.”

ôn giả Mahaka bảo:
“Vậy thì, này gia chủ, hãy trải áo choàng của ông trên hiên nhà và rải lên đó một bó cỏ.”

“Vâng, bạch Tôn giả,” gia chủ Citta đáp, rồi trải áo choàng trên hiên và rải lên đó một bó cỏ.

Sau đó, khi đã vào cốc và then cửa lại, Tôn giả Mahaka thực hiện một thần lực khiến cho ngọn lửa phụt ra từ lỗ khóa và khe cửa, đốt cháy bó cỏ nhưng không làm hại đến áo choàng. Gia chủ Citta giũ áo choàng, đứng sang một bên, vừa kinh ngạc thán phục.

Tôn giả Mahaka từ cốc bước ra và bảo gia chủ Citta:
“Như thế này đủ chưa, gia chủ?”

Gia chủ thưa:“Đủ rồi, bạch Tôn giả Mahaka. Những gì đã được làm là đủ rồi, bạch Tôn giả Mahaka, những gì đã được hiến cúng là đủ rồi. Xin Đại đức Mahaka an trú nơi Lâm viên Xoài Hoang Dã khả ái tại Macchikāsaṇḍa này. Con sẽ nhiệt tâm hộ trì Đại đức Mahaka với y áo, thực phẩm, chỗ ở và dược phẩm trị bệnh.”

“Lành thay, gia chủ,” Tôn giả Mahaka đáp.

Rồi Tôn giả Mahaka thu dọn chỗ ở của mình, mang bát và y, rời khỏi Macchikāsaṇḍa. Khi ngài rời Macchikāsaṇḍa. Ngài đi luôn, và không bao giờ trở lại nữa. Sau đó,

Chú Thích

Tôn giả Mahaka, vị Tỳ-kheo trẻ nhất trong Tăng chúng, đã làm cho gió mát thổi, mây che và mưa rơi để làm dịu nóng. Sau đó, theo lời thỉnh cầu của cư sĩ Citta, ngài biểu hiện thần thông bằng cách tạo lửa thiêu rơm mà không cháy áo. Sau sự kiện này, ngài rời khỏi Macchikāsaṇḍa và không trở lại nữa. Sớ giải nói rằng Mahaka không thích sự tôn sùng về thần thông, nên ngay khi cư sĩ Citta bày tỏ muốn hộ trì, ngài lập tức bỏ đi để tránh sự ràng buộc. Trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) – chương XII. Câu chuyện của tôn giả Mahaka được trích như minh họa cho iddhi (thần thông), cụ thể là khả năng phát sinh gió, mây, mưa nhờ adhiṭṭhāna (định lực phát nguyện). Điều này cho thấy tôn giả Mahaka được xem như một tấm gương điển hình về thần lực do thiền định. Trong Chú giải Tăng chi bộ (AN Commentary) và Apadāna Một số đoạn trong Apadāna (truyện tiền thân của các vị thánh đệ tử) mà trong đó tôn giả Mahaka đời quá khứ đã từng cúng dường chư Phật, và nhờ công đức đó mà đời này chứng A-la-hán và có thần thông. Hình ảnh của ngài thường gắn với tinh thần buông bỏ, vô nhiễm, hơn là chỉ thần thông.

Từ kuṭṭhitaṃ / kuthitaṃ / kikitaṃ là một hapax legomenon (từ hiếm, chỉ xuất hiện duy nhất một lần trong kinh tạng). Nghĩa là: “cực kỳ oi bức, nóng nực, gay gắt”, được dùng để miêu tả tình cảnh các trưởng lão Tỳ-kheo sau khi thọ thực, đi trong cái nắng gay gắt như “thân đang tan chảy”.Spk gloss nghĩa của nó là “cực kỳ gay gắt, cực kỳ nóng bức” (atitikhiṇa), vì do nóng từ cát bên dưới và mặt trời nóng phía trên.Chú giải Spk gọi đây là một thuật ngữ chỉ xuất hiện duy nhất trong lời Phật (buddhavacana) được bảo tồn trong Tam Tạng (Tipiṭaka) – tepiṭake buddhavacane asambhinnapadam.

Chữ “thera” trong bài kinh không phải là tên người như trong bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu mà chỉ là nói về “những tỳ khưu từ 10 hạ trở lên”. Những vị thera không hẳn là già về tuổi đời, 31 tuổi vẫn có thể là thera. Không nên dịch là “trưởng lão” như nhiều bản dịch do tác phẩm “Trưởng Lão Tăng Kệ” vì từ ngữ nầy chỉ cho niên cao lạp trưởng cả tuồi đời và tuổi đạo.

Sớ Giải

346. catutthe sesakaṃ vissajjethāti tassa kira therehi saddhiṃyeva kaṃsathālaṃ pamajjitvā pāyāsaṃ vaḍḍhetvā adaṃsu. so bhuttapāyāso therehiyeva saddhiṃ gantukāmo cintesi “ghare tāva upāsikā sesakaṃ vicāreti, idha panime dāsakammakārā mayā avuttā na vicāressanti, evāyaṃ paṇītapāyāso nassissatī”ti tesaṃ anujānanto evamāha. kuthitanti kudhitaṃ, heṭṭhā santattāya vālikāya upari ātapena ca atitikhiṇanti attho. idaṃ pana tepiṭake buddhavacane asambhinnapadaṃ. paveliyamānenāti paṭiliyamānena sādhu khvassa bhanteti “phāsuvihāraṃ karissāmi nesan”ti cintetvā evamāha.

iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkharīti adhiṭṭhāniddhiṃ akāsi. ettha ca “mandamando sītakavāto vāyatu, abbhamaṇḍapaṃ katvā devo ekamekaṃ phusāyatū”ti evaṃ nānāparikammaṃ — “savāto devo vassatū”ti evaṃ adhiṭṭhānaṃ ekatopi hoti. “savāto devo vassatūti ekatoparikammaṃ, mandamando sītakavāto vāyatu, abbhamaṇḍapaṃ katvā devo ekamekaṃ phusāyatū”ti evaṃ nānāadhiṭṭhānaṃ hoti. vuttanayeneva nānāparikammaṃ nānādhiṭṭhānaṃ, ekato parikammaṃ ekato adhiṭṭhānampi hotiyeva. yathā tathā karontassa pana pādakajjhānato vuṭṭhāya kataparikammassa parikammānantarena mahaggatādhiṭṭhānacitteneva taṃ ijjhati. okāsesīti vippakiri.

(346. Catutthe …)

  • “Sesakaṃ vissajjethā”: (“Hãy phân phát phần còn lại”) – Nghĩa là: Ở đây, người ta kể rằng Citta cùng với chư Tỳ-kheo đã nấu cháo sữa trong một cái chảo đồng thật lớn, làm tăng thêm nhiều sữa cháo, rồi dâng cúng. Sau khi đã dùng xong, ông muốn cùng chư Tỳ-kheo ra về, nhưng nghĩ: “Ở nhà thì các vị thí chủ nữ (upāsikā) sẽ chia phần thức ăn còn lại, nhưng ở đây, bọn đầy tớ và người làm công nếu ta không dặn, thì họ sẽ không phân phát. Như vậy món cháo sữa thượng vị này sẽ bị phí bỏ.” Do đó, ông nói ra lời ấy, như là cho phép phân phát.
  • “Kuthitaṃ”: có nghĩa là nóng nực, oi bức. Ý là do sỏi cát bên dưới còn nóng và sức nóng mặt trời chiếu rọi phía trên, nên nhiệt càng thêm gay gắt.
  • Câu này trong tam tạng (Tipiṭaka) là nguyên văn lời Đức Phật không bị xen lẫn.
  • “Paveliyamānena”: có nghĩa là “bị đốt nóng dữ dội, cực kỳ nóng bức.”
  • “Sādhu khvassa bhante”: (“Lành thay, bạch Tôn giả”) – Tôn giả trưởng lão nói vậy là vì muốn làm cho đoàn Tỳ-kheo có một sự an trú thoải mái, dễ chịu, nên tán đồng.

Giải thích về thần thông của Mahaka:

  • “Iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhari”: tức là Tôn giả đã phát khởi một chú nguyện thần thông (adhiṭṭhāniddhi).
  • Ở đây có hai loại thực hành:

1.    Nhiều loại “parikamma” (chuẩn bị) và “adhiṭṭhāna” (định lực, quyết định). Ví dụ: “Hãy có gió mát thổi nhẹ, hãy tạo ra một vòm mây như chiếc lọng, và mưa hãy rơi từng giọt một.” Đây gọi là nhiều chuẩn bị và nhiều định lực.

2.    Một loại đơn giản: chỉ cần phát nguyện một điều, như: “Cho mưa rơi xuống kèm theo gió.”

  • Dù thực hiện cách nào, thần lực cũng vận hành bằng cách: xuất từ định căn bản (jhāna), rồi sau khi ra khỏi định, lập tức thực hiện sự “chuẩn bị”, và ngay sau đó với tâm đại định phát nguyện (mahaggatādhiṭṭhānacitta) thì sự việc được thành tựu.
  • “Okāsesī”: nghĩa là rải ra, phân tán ra (ở đây: mưa rải xuống).

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình 

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[41] Chương VII

Tương Ưng Tâm

-ooOoo-

IV. Mahaka (S.iv,288)

1) Một thời, một số đông các Tỷ-kheo trưởng lão trú tại Macchikàsanda, tại rừng Ambàtaka.

2) Rồi gia chủ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:

-- Bạch chư Thượng tọa, mong rằng chư vị trưởng lão ngày mai nhận lời mời dùng bữa ăn của con.

Các Tỷ-kheo trưởng lão im lặng nhận lời.

4-5) (Như đoạn 4,5 của kinh trước).

6) Rồi gia chủ Citta tự tay làm cho thỏa mãn, tự tay cúng dường các Tỷ-kheo trưởng lão với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.

7) Các Tỷ-kheo trưởng lão sau khi ăn xong, rời tay khỏi bát, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi gia chủ Citta, sau khi nói: "Hãy thâu lượm lại các đồ ăn dư tàn", liền đi theo sau lưng các Tỷ-kheo trưởng lão.

8) Lúc bấy giời, trời nóng rất là gay gắt (kutthitam). Và các Tỷ-kheo trưởng lão ấy đi với thân như bị chảy thành nước, vì các vị ấy đã ăn bữa ăn đầy đủ.

9) Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahaka là vị mới tu nhất giữa chúng Tỷ-kheo ấy. Rồi Tôn giả Mahaka thưa với Tôn giả Thera:

-- Lành thay, bạch Thượng tọa Thera, nếu có luồng gió mát thổi, có cơn giông nổi lên, có mưa từng hột xuống.

-- Lành thay, này Hiền giả Mahaka, nếu có luồng gió mát thổi, có cơn giông nổi lên, có mưa từng hột xuống.

10) Rồi Tôn giả Mahaka thực hành thần thông khiến cho gió mát thổi, cơn giông nổi lên, có mưa từng hột xuống.

11) Rồi cư sĩ Citta suy nghĩ như sau: "Tỷ-kheo mới tu nhất trong chúng Tỷ-kheo này lại có được thần thông lực như vậy".

12) Rồi Tôn giả Mahaka sau khi đến ngôi vườn (tịnh xá) liền nói với Tôn giả Thera:

-- Bạch Thượng tọa Thera, như vậy là vừa rồi.

-- Như vậy là vừa rồi, này Hiền giả Mahaka. Làm như vậy là vừa rồi, này Hiền giả Mahaka. Cúng dường như vậy là vừa rồi, này Hiền giả Mahaka.

13) Rồi các Tỷ-kheo trưởng lão đi đến ngôi tịnh xá, còn Tôn giả Mahaka đi đến tịnh xá của mình.

14) Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Mahaka; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahaka rồi ngồi xuống một bên.

15) Ngồi một bên, gia chủ Citta nói Tôn giả Mahaka:

-- Lành thay, bạch Thượng tọa, nếu Tôn đức Mahaka thị hiện cho con thấy thượng nhân pháp thần thông.

-- Vậy này Gia chủ, hãy trải thượng y trong hành lang và rải một bó cỏ.

-- Thưa vâng, bạch Thượng tọa.

Gia chủ Citta vâng đáp Tôn giả Mahaka, cho trải thượng y trong hành lang, và rải một bó cỏ.

16) Rồi Tôn giả Mahaka vào trong tịnh xá, gài then cửa lại, thực hành thần thông lực khiến cho ngọn lửa phun ra từ lỗ ống khóa và giữa các khe cửa, đốt cháy cỏ nhưng không đốt cháy thượng y.

17) Gia chủ Citta đập thượng y, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược, đứng một bên.

18) Rồi Tôn giả Mahaka, từ tịnh xá đi ra và nói với gia chủ Citta:

-- Thôi, như vậy là vừa rồi, này Gia chủ.

-- Thôi, như vậy là vừa rồi, thưa Thượng tọa Mahaka. Làm như vậy là vừa rồi, thưa Thượng tọa Mahaka. Cúng dường như vậy là vừa rồi, thưa Thượng tọa Mahaka. Bạch Thượng tọa, mong Tôn đức Mahaka hãy sống thoải mái ở tại Macchikàsanda. Khả ái là rừng Ambàtaka! Con sẽ cố gắng cúng dường cho Tôn giả Mahaka các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.

-- Thật là lời nói chí thiện, này Gia chủ!

19) Rồi Tôn giả Mahaka dọn dẹp sàng tọa, cầm y bát, đi ra khỏi Macchikàasanda, và như vậy từ biệt Macchikàsanda không còn trở lui lại nữa.

-ooOoo-