|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 25 tháng 08, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 486. MỘT MINH HOẠ VỀ PHÁP THÀNH - Kinh Kāmabhū II (Dutiyakāmabhūsuttaṃ) . ....
Mô tả về con đường tu tập thật không dễ dàng. Mà nói
về cứu cánh giải thoát thì vượt khỏi khả năng của ngôn từ. Ba
phạm trù: Không, vô tướng, vô nguyện là những minh hoạ gần nhất
với niết bàn trên phương diện ngôn ngữ. Một cuộc đàm thoại giữa
hai thánh giả, một cư sĩ và một tăng sĩ, về sự tu chứng có lẽ là
những gợi tốt nhất có thể về sự vượt thoát hữu vi pháp. Mấy ai
giữa trần gian nầy có thể cảm nhận sự cao vợi của không khao
khát, không định hình, không truy cầu?
Kinh Văn
348. ekaṃ samayaṃ āyasmā kāmabhū macchikāsaṇḍe viharati
ambāṭakavane. atha kho citto gahapati yenāyasmā kāmabhū
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno
kho citto gahapati āyasmantaṃ kāmabhuṃ etadavoca — “kati nu kho,
bhante, saṅkhārā”ti? “tayo kho, gahapati, saṅkhārā —
kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro”ti. “sādhu, bhante”ti
kho citto gahapati āyasmato kāmabhussa bhāsitaṃ abhinanditvā
anumoditvā āyasmantaṃ kāmabhuṃ uttariṃ pañhaṃ apucchi — “katamo
pana, bhante, kāyasaṅkhāro, katamo vacīsaṅkhāro, katamo
cittasaṅkhāro”ti? “assāsapassāsā kho, gahapati, kāyasaṅkhāro,
vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.
“sādhu, bhante”ti kho citto gahapati ... pe ... uttariṃ
pañhaṃ apucchi — “kasmā pana, bhante, assāsapassāsā
kāyasaṅkhāro, kasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, kasmā saññā ca
vedanā ca cittasaṅkhāro”ti? “assāsapassāsā kho, gahapati,
kāyikā. ete dhammā kāyappaṭibaddhā, tasmā assāsapassāsā
kāyasaṅkhāro. pubbe kho, gahapati, vitakketvā vicāretvā pacchā
vācaṃ bhindati, tasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro. saññā ca
vedanā ca cetasikā. ete dhammā cittappaṭibaddhā, tasmā saññā ca
vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.
sādhu ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi — “kathaṃ pana,
bhante, saññāvedayitanirodhasamāpatti hotī”ti? “na kho,
gahapati, saññāvedayitanirodhaṃ samāpajjantassa bhikkhuno evaṃ
hoti — ‘ahaṃ saññāvedayitanirodhaṃ samāpajjissan’ti vā ‘ahaṃ
saññāvedayitanirodhaṃ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṃ
saññāvedayitanirodhaṃ samāpanno’ti vā. atha khvassa pubbeva
tathā cittaṃ bhāvitaṃ hoti yaṃ taṃ tathattāya upanetī”ti.
sādhu ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi —
“saññāvedayitanirodhaṃ samāpajjantassa pana, bhante, bhikkhuno
katame dhammā paṭhamaṃ nirujjhanti, yadi vā kāyasaṅkhāro, yadi
vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti?
“saññāvedayitanirodhaṃ samāpajjantassa kho, gahapati, bhikkhuno
vacīsaṅkhāro paṭhamaṃ nirujjhati, tato kāyasaṅkhāro, tato
cittasaṅkhāro”ti.
sādhu ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi — “yvāyaṃ, bhante,
mato kālaṅkato, yo cāyaṃ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṃ
samāpanno, imesaṃ kiṃ nānākaraṇan”ti? “yvāyaṃ gahapati, mato
kālaṅkato tassa kāyasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho,
vacīsaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, cittasaṅkhāro niruddho
paṭippassaddho, āyu parikkhīṇo, usmā vūpasantā, indriyāni
viparibhinnāni. yo ca khvāyaṃ, gahapati, bhikkhu
saññāvedayitanirodhaṃ samāpanno, tassapi kāyasaṅkhāro niruddho
paṭippassaddho, vacīsaṅkhāro niruddho paṭippassaddho,
cittasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, āyu aparikkhīṇo, usmā
avūpasantā, indriyāni vippasannāni. yvāyaṃ, gahapati, mato
kālaṅkato, yo cāyaṃ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṃ samāpanno,
idaṃ nesaṃ nānākaraṇan”ti.
sādhu ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi — “kathaṃ pana,
bhante, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhānaṃ hotī”ti? “na
kho, gahapati, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa
bhikkhuno evaṃ hoti — ‘ahaṃ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā
vuṭṭhahissan’ti vā ‘ahaṃ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā
vuṭṭhahāmī’ti vā ‘ahaṃ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā
vuṭṭhito’ti vā. atha khvassa pubbeva tathā cittaṃ bhāvitaṃ hoti,
yaṃ taṃ tathattāya upanetī”ti.
sādhu, bhante ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi —
“saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa pana, bhante,
bhikkhuno katame dhammā paṭhamaṃ uppajjanti, yadi vā
kāyasaṅkhāro, yadi vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti?
“saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa, gahapati,
bhikkhuno cittasaṅkhāro paṭhamaṃ uppajjati, tato kāyasaṅkhāro,
tato vacīsaṅkhāro”ti.
sādhu ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi —
“saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitaṃ pana, bhante,
bhikkhuṃ kati phassā phusanti”? “saññāvedayitanirodhasamāpattiyā
vuṭṭhitaṃ kho, gahapati, bhikkhuṃ tayo phassā phusanti — suññato
phasso, animitto phasso, appaṇihito phasso”ti.
sādhu ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi —
“saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa pana, bhante,
bhikkhuno kiṃninnaṃ cittaṃ hoti, kiṃpoṇaṃ, kiṃpabbhāran”ti?
“saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa kho, gahapati,
bhikkhuno vivekaninnaṃ cittaṃ hoti vivekapoṇaṃ
vivekapabbhāran”ti.
“sādhu, bhante”ti kho citto gahapati āyasmato kāmabhussa
bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṃ kāmabhuṃ uttariṃ
pañhaṃ apucchi — “saññāvedayitanirodhasamāpattiyā pana, bhante,
kati dhammā bahūpakārā”ti? “addhā kho tvaṃ, gahapati, yaṃ
paṭhamaṃ pucchitabbaṃ taṃ pucchasi. api ca tyāhaṃ byākarissāmi.
saññāvedayitanirodhasamāpattiyā kho, gahapati, dve dhammā
bahūpakārā — samatho ca vipassanā cā”ti. chaṭṭhaṃ.
Một lần nọ, Tôn giả Kāmabhū an trú tại Macchikāsanda, trong khu rừng xoài
hoang dã. Bấy giờ, cư sĩ Citta đến, đảnh lễ Tôn giả, rồi ngồi
xuống một bên và thưa:
– “Này cư sĩ, có ba loại hành: thân hành, khẩu hành và ý hành.”
– “Thật vi diệu, bạch Tôn giả.”
– “Này cư sĩ, hơi thở vào và hơi thở ra là thân hành. Tầm và là khẩu hành.
Thọ và tưởng là ý hành.”
[Cư sĩ Citta
hỏi tiếp:]
– “Này cư sĩ, hơi thở vào ra thuộc về thân, tùy thuộc thân nên gọi là thân
hành. Người ta trước hết khởi tầm và tứ, sau đó mới phát lời
nói, nên tầm và tứ gọi là khẩu hành. Thọ và tưởng thuộc về tâm,
tùy thuộc tâm, nên gọi là ý hành.”
– “Thật vi diệu, bạch Tôn giả. Bạch Tôn giả, thế nào là sự chứng đạt diệt
thọ tưởng định?”– “Này cư sĩ, khi một Tỳ khưu chứng đạt diệt thọ
tưởng định, vị ấy không nghĩ: ‘Ta sẽ chứng đạt’, ‘Ta đang chứng
đạt’ hay ‘Ta đã chứng đạt’. Mà đúng hơn, tâm vị ấy đã
được tu tập từ trước theo một cách đưa đến trạng thái ấy.”
– “Thật vi diệu, bạch Tôn giả. Khi một Tỳ khưu chứng đạt diệt thọ tưởng
định, trong ba hành ấy – thân hành, khẩu hành, ý hành – cái nào
diệt trước?”
– “Này cư sĩ, khi một Tỳ khưu chứng đạt diệt thọ tưởng định, trước hết
khẩu hành diệt, sau đó thân hành, rồi đến ý hành.”
– “Thật vi diệu, bạch Tôn giả. Vậy có gì khác nhau giữa một người đã chết
và một Tỳ khưu chứng đạt diệt thọ tưởng định?”
– “Này cư sĩ, người đã chết thì thân hành, khẩu hành, ý hành đều diệt và
hoại; mạng căn đã diệt, hơi ấm thân thể mất, căn môn tan rã. Còn
Tỳ khưu chứng đạt diệt thọ tưởng định thì thân hành, khẩu hành,
ý hành cũng diệt, nhưng mạng căn chưa diệt, hơi ấm còn, các căn
yên tĩnh. Đây là sự sai khác.”
– “Bạch Tôn giả, thế nào là xuất khỏi diệt thọ tưởng định?”
– “Này cư sĩ, khi một Tỳ khưu xuất khỏi diệt thọ tưởng định, vị ấy cũng
không nghĩ: ‘Ta sẽ xuất’, ‘Ta đang xuất’, ‘Ta đã xuất’. Mà tâm
vị ấy đã được tu tập từ trước theo cách đưa đến trạng thái ấy.”
– “Bạch Tôn
giả, khi xuất khỏi diệt thọ tưởng định, trong ba hành ấy cái nào
khởi trước?”
– “Này cư sĩ, trước hết ý hành khởi, sau đó thân hành, rồi đến khẩu hành.”
– “Bạch Tôn giả, khi vị ấy đã xuất khỏi diệt thọ tưởng định, có bao nhiêu
loại xúc sanh khởi nơi vị ấy?”
– “Này cư sĩ, có ba loại xúc: Không xúc (suññataphassa), Vô tướng xúc
(animittaphassa), Vô nguyện xúc (appaṇihitaphassa).”
– “Bạch Tôn giả, khi xuất khỏi diệt thọ tưởng định, tâm vị ấy hướng về
đâu?”
– “Này cư sĩ, tâm vị ấy hướng đến viễn ly.”
– “Bạch Tôn giả, có bao nhiêu pháp trợ giúp để chứng đạt diệt thọ tưởng
định?”
– “Này cư sĩ, ông hỏi cái lẽ ra phải hỏi trước cùng, nhưng ta sẽ trả lời:
Có hai pháp trợ giúp cho sự chứng đạt diệt thọ tưởng định, đó
là: Chỉ và quán .”
Chú Thích
Đoạn đối thoại trong bài kinh nầy tương ứng với trong Trung Bộ, kinh số 43
và 44 Tuy nhiên, câu
hỏi cuối cùng trong Kinh Kāmabhū lại không có ở MN.
Theo Sớ giải thì cư sĩ Citta (cũng
là bậc Bất Lai, Anāgāmī) vốn chứng diệt thọ tưởng định nên ông
hỏi về ba hành.
Ba thuật ngữ kāyasaṅkhāra, vacīsaṅkhāra, cittasaṅkhāra trong ngữ cảnh này
không mang nghĩa giống như “hành” (saṅkhāra) trong Duyên khởi.
“Diệt thọ tưởng định” (saññāvedayitanirodha) = nirodhasamāpatti: định cao
nhất, nơi mọi danh pháp (tâm và thuộc tánh) đều ngưng. Chỉ có
bậc A-la-hán hoặc Bất Lai đã thành tựu tám định (samādhi) mới có
thể nhập.
Trước khi nhập, hành giả tự xác định thời gian cho diệt định: “Sẽ ở trong
trạng thái không tâm thức (acittaka) trong khoảng thời gian như
vậy.”
Trình tự diệt của ba hành:
Người chết và người nhập diệt khác nhau ở chỗ:
Sớ giải ví như tấm gương ngoài đường bụi bặm thì mờ, còn tấm gương cất
trong hộp thì sáng rực bên trong.
Khi xuất định, hành giả cũng đã định trước: “Sẽ thể nhập trạng thái không
tâm thức trong chừng này, rồi sau đó có tâm trở lại.”
Khi xuất khỏi diệt định:
Ba loại xúc khi xuất định: Suññataphassa (không xúc), Animittaphassa (vô
tướng xúc), Appaṇihitaphassa (vô nguyện xúc) có thể giải thích
theo tính chất (saguṇa) hoặc đối tượng (ārammaṇa).
Sớ Giải chú thích “Tâm của vị ấy sau khi ra khỏi diệt định nghiêng về viễn
ly (viveka), tức hướng về Niết-bàn”.
Để chứng diệt định cần hai yếu tố: Chỉ (samatha) hay định tĩnh và Quán
(vipassanā) tức tuệ giác. Sớ giải chú thích: Hành giả phải tuần
tự nhập bốn thiền và bốn vô sắc định, rồi quán chiếu vô thường,
khổ, vô ngã trên các tầng định ấy, mới đủ năng lực nhập Diệt thọ
tưởng định.
Sớ Giải
348. chaṭṭhe kati nu kho bhante saṅkhārāti ayaṃ kira, gahapati, nirodhaṃ valañjeti, tasmā
“nirodhapādake saṅkhāre pucchissāmī”ti cintetvā evamāha. theropissa adhippāyaṃ ñatvā puññābhisaṅkhārādīsu anekesu saṅkhāresu vijjamānesupi
kāyasaṅkhārādayova
ācikkhanto tayo kho gahapatītiādimāha. tattha kāyappaṭibaddhattā kāyena saṅkharīyati nibbattīyatīti
kāyasaṅkhāro.
vācāya saṅkharoti nibbattetīti vacīsaṅkhāro. cittappaṭibaddhattā cittena saṅkharīyati nibbattīyatīti
cittasaṅkhāro.
♦ katamo pana bhanteti idha kiṃ pucchati? “ime saṅkhārā aññamaññaṃ missā āluḷitā avibhūtā duddīpanā.
tathā hi kāyadvāre ādānaggahaṇamuñcanacopanāni pāpetvā uppannā aṭṭha kāmāvacarakusalacetanā
dvādasa akusalacetanāti evaṃ kusalākusalā vīsati
cetanāpi, assāsapassāsāpi kāyasaṅkhārotveva vuccanti. vacīdvāre hanusañcopanaṃ vacībhedaṃ pāpetvā uppannā
vuttappakārāva vīsati cetanāpi vitakkavicārāpi vacīsaṅkhārotveva vuccanti.
kāyavacīdvāresu copanaṃ apatvā raho nisinnassa cintayato uppannā kusalākusalā
ekūnatiṃsacetanāpi,
saññā ca vedanā cāti ime dve dhammāpi cittasaṅkhārotveva vuccanti. evaṃ ime saṅkhārā aññamaññaṃ missā āluḷitā avibhūtā duddīpanā,
te pākaṭe
vibhūte katvā kathāpessāmī”ti pucchi.
♦
kasmā pana bhanteti idha kāyasaṅkhārādināmassa padatthaṃ pucchati. tassa
vissajjane kāyappaṭibaddhāti kāyanissitā. kāye sati honti, asati na honti.
cittappaṭibaddhāti cittanissitā. citte sati honti, asati na honti.
♦ idāni “kiṃ nu kho esa saññāvedayitanirodhaṃ valañjeti, no valañjeti,
ciṇṇavasī vā tattha no ciṇṇavasī”ti jānanatthaṃ pucchanto kathaṃ pana bhante saññāvedayitanirodhasamāpatti hotīti āha. tassa
vissajjane samāpajjissanti vā samāpajjāmīti vā padadvayena
nevasaññānāsaññāyatanasamāpattikālo kathito. samāpannoti padena
antonirodho. tathā purimehi dvīhi padehi sacittakakālo kathito,
pacchimena acittakakālo.
♦ pubbeva tathā cittaṃ bhāvitaṃ hotīti nirodhasamāpattito pubbe addhānaparicchedakāleyeva
“ettakaṃ
kālaṃ acittako bhavissāmī”ti
addhānaparicchedaṃ cittaṃ bhāvitaṃ hoti. yaṃ taṃ tathattāya upanetīti yaṃ pana evaṃ bhāvitaṃ cittaṃ, taṃ puggalaṃ tathattāya
acittakabhāvāya upaneti. vacīsaṅkhāro paṭhamaṃ nirujjhatīti sesasaṅkhārehi paṭhamaṃ dutiyajjhāneyeva nirujjhati. tato kāyasaṅkhāroti tato paraṃ kāyasaṅkhāro catutthajjhāne
nirujjhati. tato cittasaṅkhāroti tato paraṃ cittasaṅkhāro antonirodhe nirujjhati. āyūti rūpajīvitindriyaṃ. viparibhinnānīti
upahatāni vinaṭṭhāni.
♦
tattha keci “nirodhasamāpannassa ‘cittasaṅkhāro ca niruddho’ti vacanato cittaṃ aniruddhaṃ hoti, tasmā sacittakāpi
ayaṃ
samāpattī”ti vadanti. te vattabbā — “vacīsaṅkhāropissa niruddho”ti
vacanato vācā aniruddhā hoti, tasmā nirodhasamāpannena dhammampi
kathentena sajjhāyampi karontena nisīditabbaṃ siyā. yo cāyaṃ mato kālaṅkato, tassāpi cittasaṅkhāro niruddhoti vacanato cittaṃ aniruddhaṃ bhaveyya, tasmā kālaṅkate mātāpitaro vā
arahante vā jhāpentena ānantariyakammaṃ kataṃ bhaveyya. iti byañjane abhinivesaṃ akatvā ācariyānaṃ naye
ṭhatvā attho
upaparikkhitabbo. attho hi paṭisaraṇaṃ, na byañjanaṃ.
♦ indriyāni vippasannānīti
kiriyamayapavattasmiñhi vattamāne bahiddhārammaṇesu pasāde ghaṭṭentesu indriyāni
kilamanti, upahatāni makkhittāni viya honti vātādīhi uṭṭhitarajena catumahāpathe
ṭhapitāadāso viya. yathā
pana thavikāya pakkhipitvā mañjūsādīsu
ṭhapito ādāso antoyeva virocati, evaṃ nirodhasamāpannassa
bhikkhuno antonirodhe pañca pasādā ativiya virocanti. tena vuttaṃ “indriyāni
vippasannānī”ti.
♦ vuṭṭhahissanti vā vuṭṭhahāmīti vā padadvayena
antonirodhakālo kathito, vuṭṭhitoti padena phalasamāpattikālo. tathā purimehi dvīhi
padehi acittakakālo kathito, pacchimena sacittakakālo. pubbeva
tathā cittaṃ bhāvitaṃ hotīti
nirodhasamāpattito pubbe addhānaparicchedakāleyeva “ettakaṃ kālaṃ acittako hutvā tato paraṃ
sacittako bhavissāmī”ti addhānaparicchedaṃ cittaṃ bhāvitaṃ hoti. yaṃ taṃ tathattāya upanetīti yaṃ evaṃ bhāvitaṃ cittaṃ, taṃ puggalaṃ tathattāya
sacittakabhāvāya upaneti. iti heṭṭhā nirodhasamāpajjannakālo gahito, idha nirodhato vuṭṭhānakālo.
♦ idāni nirodhakathaṃ kathetuṃ kāloti nirodhakathā kathetabbā siyā. sā panesā “dvīhi
balehi samannāgatattā tayo ca saṅkhārānaṃ paṭipassaddhiyā soḷasahi ñāṇacariyāhi navahi samādhicariyāhi vasībhāvatāpaññā
nirodhasamāpattiyaṃ ñāṇan”ti mātikaṃ
ṭhapetvā sabbākārena visuddhimagge kathitā, tasmā tattha
kathitanayeneva gahetabbā. ko panāyaṃ nirodho nāma? catunnaṃ khandhānaṃ paṭisaṅkhā appavatti. atha kimatthametaṃ samāpajjantīti? saṅkhārānaṃ pavatte ukkaṇṭhitā sattāhaṃ acittakā hutvā sukhaṃ viharissāma, diṭṭhadhammanibbānaṃ nāmetaṃ yadidaṃ nirodhoti etadatthaṃ samāpajjanti.
♦ cittasaṅkhāro paṭhamaṃ uppajjatīti nirodhā vuṭṭhahantassa hi
phalasamāpatticittaṃ paṭhamaṃ uppajjati. taṃsampayuttaṃ saññañca vedanañca sandhāya “cittasaṅkhāro paṭhamaṃ uppajjatī”ti āha. tato
kāyasaṅkhāroti
tato paraṃ bhavaṅgasamaye kāyasaṅkhāro uppajjati.
♦
kiṃ pana phalasamāpatti
assāsapassāse na samuṭṭhāpetīti? samuṭṭhāpeti. imassa pana catutthajjhānikā phalasamāpatti, sā na
samuṭṭhāpeti. kiṃ vā etena? phalasamāpatti paṭhamajjhānikā vā hotu
dutiyatatiyacatutthajjhānikā vā, santasamāpattito vuṭṭhitassa bhikkhuno
assāsapassāsā abbohārikā honti, tesaṃ abbohārikabhāvo sañjīvattheravatthunā veditabbo.
sañjīvattherassa hi samāpattito vuṭṭhāya kiṃsukapupphasadise vītaccitaṅgāre maddamānassa
gacchato cīvare aṃsumattampi na jhāyi, usmākāramattampi nāhosi. samāpattibalaṃ nāmetanti vadanti.
evameva santāya phalasamāpattiyā vuṭṭhitassa bhikkhuno assāsapassāsā abbohārikā hontīti bhavaṅgasamayenevetaṃ kathitanti veditabbaṃ.
♦ tato vacīsaṅkhāroti tato paraṃ kiriyamayapavattavalañjanakāle vacīsaṅkhāro uppajjati. kiṃ bhavaṅgaṃ vitakkavicāre na samuṭṭhāpetīti? samuṭṭhāpeti. taṃsamuṭṭhānā pana vitakkavicārā
vācaṃ
abhisaṅkhātuṃ na sakkontīti
kiriyamayapavattavalañjanakālenevetaṃ kathitaṃ.
♦ suññato phassotiādayo
saguṇenāpi
ārammaṇenāpi
kathetabbā. saguṇena tāva suññatā nāma phalasamāpatti, tāya sahajātaphassaṃ sandhāya “suññato
phasso”ti vuttaṃ. animittappaṇihitesupi eseva nayo. ārammaṇena pana nibbānaṃ rāgādīhi suññattā
suññatā nāma, rāganimittādīnaṃ abhāvā animittaṃ, rāgadosamohappaṇidhīnaṃ abhāvā appaṇihitaṃ, suññataṃ nibbānaṃ ārammaṇaṃ katvā uppannaphalasamāpattisamphasso suññato nāma.
animittappaṇihitesupi eseva nayo.
♦
aparā āgamaniyakathā nāma hoti. suññatānimittāppaṇihitāti hi vipassanāpi
vuccati. tattha yo bhikkhu saṅkhāre aniccato pariggahetvā aniccato disvā aniccato vuṭṭhāti, tassa vuṭṭhānagāminivipassanā
animittā nāma hoti. yo dukkhato pariggahetvā dukkhato disvā
dukkhato vuṭṭhāti, tassa appaṇihitā nāma. yo anattato
pariggahetvā anattato disvā anattato vuṭṭhāti, tassa suññatā nāma. tattha animittavipassanāya maggo
animitto nāma, animittamaggassa phalaṃ animittaṃ nāma, animittaphalasamāpattisahajāte phasse phusante
“animitto phasso phusatī”ti vuccati. appaṇihitasuññatesupi eseva nayo. āgamaniyena kathite pana
suññato vā phasso animitto vā phasso appaṇihito vā phassoti vikappo āpajjeyya, tasmā saguṇena ceva ārammaṇena ca kathetabbaṃ. evañhi tayo phassā
phusantīti sameti.
♦ vivekaninnantiādīsu
nibbānaṃ
viveko nāma. tasmiṃ viveke ninnaṃ onatanti vivekaninnaṃ. vivekapoṇanti aññato agantvā yena viveko, tena vaṅkaṃ viya hutvā
ṭhitanti vivekapoṇaṃ. yena viveko, tena
patamānaṃ viya
ṭhitanti vivekapabbhāraṃ.
Sớ Giải 348 – Kāmabhū Sutta II
Về câu hỏi “Có bao nhiêu loại hành (saṅkhāra)?”
o
Thân hành: vì gắn liền với thân (hơi
thở vào ra).
o
Khẩu hành: vì gắn với lời nói (tầm và
tứ).
o
Ý hành: vì gắn với tâm (thọ và tưởng).
Vì sao Citta hỏi “Cái nào là thân hành, khẩu hành, ý hành?”
o
Khi qua thân môn: hành động nắm, giữ,
thả… sinh ra 20 loại tâm thiện/bất thiện, nhưng hơi thở vẫn được
tính là thân hành.
o
Qua khẩu môn: các cử động lưỡi, môi…
sinh ra 20 loại tâm thiện/bất thiện, nhưng tầm và tứ vẫn được
gọi là khẩu hành.
o
Khi ngồi yên một mình suy nghĩ, phát
sinh 29 loại tâm thiện/bất thiện, nhưng thọ và tưởng vẫn được
tính là ý hành.
Do vậy, Citta muốn xin Tôn giả làm rõ, phân minh, để khỏi lẫn lộn.
Tại sao hơi thở gọi là thân hành?
Chứng Diệt thọ tưởng định
Khác nhau giữa người chết và người chứng Diệt thọ tưởng định
Xuất khỏi Diệt thọ tưởng định
Loại xúc sau khi xuất định
Tâm hướng đến đâu?
Điều kiện để chứng Diệt thọ tưởng định
VI. Kàmabhù (2) (S.iv,193)
1) Một thời Tôn giả Kàmabhù trú tại Macchikàsanda, tại rừng
Ambàtaka.
2) Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Kàmabhà; sau khi đến,
đảnh lễ Tôn giả Kàmabhù, rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa Tôn giả Kàmabhù:
-- Bạch Thượng tọa, có bao nhiêu hành tất cả?
-- Này Gia chủ có ba hành: thân hành, khẩu hành và ý hành.
-- Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói, rồi
hỏi thêm Tôn giả Kàmabhù một câu nữa:
-- Bạch Thượng tọa, thế nào là thân hành? Thế nào là khẩu
hành? Thế nào là ý hành?
-- Hơi thở vô, hơi thở ra, này Gia chủ, là thân hành. Tầm và
tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ là ý hành.
-- Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói...
hỏi thêm câu hỏi nữa:
5) -- Vì sao, bạch Thượng tọa, thở vô thở ra là thân hành?
Vì sao tầm và tứ là khẩu hành? Vì sao tưởng và thọ là ý hành?
-- Thở vô thở ra, này Giả chủ, thuộc về thân. Các pháp này
liên hệ đến thân; do vậy, thở vô thở ra là thân hành. Trước phải
tầm cầu, tư sát, này Gia chủ, sau mới phát lời nói; do vậy, tầm
và tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ thuộc về ý. Những pháp này liên
hệ đến tâm; do vậy, tưởng và thọ là ý hành.
-- Lành thay, bạch Thượng tọa.
... hỏi thêm câu hỏi nữa:
6) -- Như thế nào, bạch Thượng tọa, là chứng Diệt thọ tưởng
định?
-- Này Gia chủ, Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định không
có nghĩ rằng: "Tôi sẽ chứng đạt Diệt thọ tưởng định", hay: "Tôi
đang chứng đạt Diệt thọ tưởng định", hay: "Tôi đã chứng đạt Diệt
thọ tưởng định". Do tâm vị ấy trước đã được tu tập như vậy, nên
đưa đến thành tựu như thật như vậy.
-- Lành thay...
... hỏi thêm câu nữa:
7) -- Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng
tọa, những pháp nào được đoạn diệt trước, thân hành, hay khẩu
hành, hay ý hành?
-- Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, khẩu
hành được diệt trước, thứ đến thân hành, rồi đến ý hành.
-- Lành thay...
... hỏi thêm câu hỏi nữa:
8) -- Bạch Thượng tọa, người đã chết, đã mệnh chung, và
Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, giữa những người này có
những sai khác gì?
-- Ðối với người đã chết, đã mệnh chung, này Gia chủ, thân
hành người ấy được đoạn diệt, được khinh an; khẩu hành được đoạn
diệt, được khinh an; ý hành được đoạn diệt, được khinh an, thọ
mạng được đoạn tận; sức nóng được tịnh chỉ; các căn bị hủy hoại.
Còn Tỷ-kheo đã chứng đạt Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, thân
hành được đoạn diệt, khinh an; khẩu hành được đoạn diệt, khinh
an; ý hành được đoạn diệt, khinh an; thọ mạng không bị đoạn tận;
sức nóng không bị tịnh chỉ; các căn được trong sáng. Này Gia
chủ, người đã chết, đã mệnh chung và Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ
tưởng định, giữa những người này có những sai khác như vậy.
-- Lành thay...
... hỏi thêm câu hỏi nữa.
9) -- Như thế nào, bạch Thượng tọa, là ra khỏi Diệt thọ
tưởng định?
-- Này Gia chủ, Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định không có
suy nghĩ: "Tôi sẽ ra khỏi Diệt thọ tưởng định", hay: "Tôi đang
ra khỏi Diệt thọ tưởng định", hay: "Tôi đã ra khỏi Diệt thọ
tưởng định". Do tâm vị ấy trước đã được tu tập như vậy, nên đưa
đến thành tựu như thật như vậy.
-- Lành thay, bạch Thượng tọa...
... hỏi thêm câu hỏi nữa:
10) -- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa,
pháp nào khởi lên trước, thân hành, khẩu hành, hay ý hành?
-- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, ý hành
khởi lên trước, rồi đến thân hành, rồi đến khẩu hành.
-- Lành thay, bạch Thượng tọa...
...hỏi thêm câu hỏi nữa:
11) -- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa,
cảm giác được bao nhiêu xúc?
-- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định cảm thọ được ba xúc:
không xúc, vô tướng xúc, vô nguyện xúc.
-- Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ... và hỏi thêm câu hỏi nữa:
12) -- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa,
tâm thiên về đâu, hướng về đâu, nghiêng về đâu?
-- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, tâm vị
ấy thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, nghiêng về viễn ly.
-- Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói rồi
hỏi thêm câu hỏi nữa:
13) -- Bạch Thượng tọa, có bao nhiêu pháp giúp đỡ nhiều cho
sự chứng đắc Diệt thọ tưởng định?
-- Thật sự, này Gia chủ, điều Gia chủ cần phải hỏi trước,
Gia chủ lại hỏi sau. Tuy vậy, ta sẽ trả lời cho Gia chủ. Này Gia
chủ, có hai pháp giúp đỡ rất nhiều cho Diệt thọ tưởng định được
chứng đắc. Ðó là Chỉ và Quán. -oo0oo- |