BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 25 tháng 08, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 40. Tương Ưng (gia chủ) Citta- SN 41.6.
Bài 486. MỘT MINH HOẠ VỀ PHÁP THÀNH - Kinh Kāmabhū II (Dutiyakāmabhūsuttaṃ) .

....
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-486.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Mô tả về con đường tu tập thật không dễ dàng. Mà nói về cứu cánh giải thoát thì vượt khỏi khả năng của ngôn từ. Ba phạm trù: Không, vô tướng, vô nguyện là những minh hoạ gần nhất với niết bàn trên phương diện ngôn ngữ. Một cuộc đàm thoại giữa hai thánh giả, một cư sĩ và một tăng sĩ, về sự tu chứng có lẽ là những gợi tốt nhất có thể về sự vượt thoát hữu vi pháp. Mấy ai giữa trần gian nầy có thể cảm nhận sự cao vợi của không khao khát, không định hình, không truy cầu?

Kinh Văn

348. ekaṃ samayaṃ āyasmā kāmabhū macchikāsaṇḍe viharati ambāṭakavane. atha kho citto gahapati yenāyasmā kāmabhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho citto gahapati āyasmantaṃ kāmabhuṃ etadavoca — “kati nu kho, bhante, saṅkhārā”ti? “tayo kho, gahapati, saṅkhārā — kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro”ti. “sādhu, bhante”ti kho citto gahapati āyasmato kāmabhussa bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṃ kāmabhuṃ uttariṃ pañhaṃ apucchi — “katamo pana, bhante, kāyasaṅkhāro, katamo vacīsaṅkhāro, katamo cittasaṅkhāro”ti? “assāsapassāsā kho, gahapati, kāyasaṅkhāro, vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.

“sādhu, bhante”ti kho citto gahapati ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi — “kasmā pana, bhante, assāsapassāsā kāyasaṅkhāro, kasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, kasmā saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti? “assāsapassāsā kho, gahapati, kāyikā. ete dhammā kāyappaṭibaddhā, tasmā assāsapassāsā kāyasaṅkhāro. pubbe kho, gahapati, vitakketvā vicāretvā pacchā vācaṃ bhindati, tasmā vitakkavicārā vacīsaṅkhāro. saññā ca vedanā ca cetasikā. ete dhammā cittappaṭibaddhā, tasmā saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.

sādhu ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi — “kathaṃ pana, bhante, saññāvedayitanirodhasamāpatti hotī”ti? “na kho, gahapati, saññāvedayitanirodhaṃ samāpajjantassa bhikkhuno evaṃ hoti — ‘ahaṃ saññāvedayitanirodhaṃ samāpajjissan’ti vā ‘ahaṃ saññāvedayitanirodhaṃ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṃ saññāvedayitanirodhaṃ samāpanno’ti vā. atha khvassa pubbeva tathā cittaṃ bhāvitaṃ hoti yaṃ taṃ tathattāya upanetī”ti.

sādhu ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi — “saññāvedayitanirodhaṃ samāpajjantassa pana, bhante, bhikkhuno katame dhammā paṭhamaṃ nirujjhanti, yadi vā kāyasaṅkhāro, yadi vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti? “saññāvedayitanirodhaṃ samāpajjantassa kho, gahapati, bhikkhuno vacīsaṅkhāro paṭhamaṃ nirujjhati, tato kāyasaṅkhāro, tato cittasaṅkhāro”ti.

sādhu ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi — “yvāyaṃ, bhante, mato kālaṅkato, yo cāyaṃ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṃ samāpanno, imesaṃ kiṃ nānākaraṇan”ti? “yvāyaṃ gahapati, mato kālaṅkato tassa kāyasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, vacīsaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, cittasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, āyu parikkhīṇo, usmā vūpasantā, indriyāni viparibhinnāni. yo ca khvāyaṃ, gahapati, bhikkhu saññāvedayitanirodhaṃ samāpanno, tassapi kāyasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, vacīsaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, cittasaṅkhāro niruddho paṭippassaddho, āyu aparikkhīṇo, usmā avūpasantā, indriyāni vippasannāni. yvāyaṃ, gahapati, mato kālaṅkato, yo cāyaṃ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṃ samāpanno, idaṃ nesaṃ nānākaraṇan”ti.

sādhu ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi — “kathaṃ pana, bhante, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhānaṃ hotī”ti? “na kho, gahapati, saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa bhikkhuno evaṃ hoti — ‘ahaṃ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahissan’ti vā ‘ahaṃ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahāmī’ti vā ‘ahaṃ saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhito’ti vā. atha khvassa pubbeva tathā cittaṃ bhāvitaṃ hoti, yaṃ taṃ tathattāya upanetī”ti.

sādhu, bhante ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi — “saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa pana, bhante, bhikkhuno katame dhammā paṭhamaṃ uppajjanti, yadi vā kāyasaṅkhāro, yadi vā vacīsaṅkhāro, yadi vā cittasaṅkhāro”ti? “saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahantassa, gahapati, bhikkhuno cittasaṅkhāro paṭhamaṃ uppajjati, tato kāyasaṅkhāro, tato vacīsaṅkhāro”ti.

sādhu ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi — “saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitaṃ pana, bhante, bhikkhuṃ kati phassā phusanti”? “saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitaṃ kho, gahapati, bhikkhuṃ tayo phassā phusanti — suññato phasso, animitto phasso, appaṇihito phasso”ti.

sādhu ... pe ... uttariṃ pañhaṃ apucchi — “saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa pana, bhante, bhikkhuno kiṃninnaṃ cittaṃ hoti, kiṃpoṇaṃ, kiṃpabbhāran”ti? “saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhitassa kho, gahapati, bhikkhuno vivekaninnaṃ cittaṃ hoti vivekapoṇaṃ vivekapabbhāran”ti.

“sādhu, bhante”ti kho citto gahapati āyasmato kāmabhussa bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṃ kāmabhuṃ uttariṃ pañhaṃ apucchi — “saññāvedayitanirodhasamāpattiyā pana, bhante, kati dhammā bahūpakārā”ti? “addhā kho tvaṃ, gahapati, yaṃ paṭhamaṃ pucchitabbaṃ taṃ pucchasi. api ca tyāhaṃ byākarissāmi. saññāvedayitanirodhasamāpattiyā kho, gahapati, dve dhammā bahūpakārā — samatho ca vipassanā cā”ti. chaṭṭhaṃ.

Một lần nọ, Tôn giả Kāmabhū an trú tại Macchikāsanda, trong khu rừng xoài hoang dã. Bấy giờ, cư sĩ Citta đến, đảnh lễ Tôn giả, rồi ngồi xuống một bên và thưa:
– “Bạch Tôn giả, có mấy loại hành (saṅkhāra)?”

– “Này cư sĩ, có ba loại hành: thân hành, khẩu hành và ý hành.”

– “Thật vi diệu, bạch Tôn giả.”
Rồi ông lại hỏi:
– “Nhưng thân hành là gì? Khẩu hành là gì? Ý hành là gì?”

– “Này cư sĩ, hơi thở vào và hơi thở ra là thân hành. Tầm và là khẩu hành. Thọ và tưởng là ý hành.”

 [Cư sĩ Citta  hỏi tiếp:]
– “Thật vi diệu, bạch Tôn giả. Vì sao hơi thở vào ra gọi là thân hành? Vì sao tầm và tứ gọi là khẩu hành? Vì sao thọ và tưởng gọi là ý hành?”

– “Này cư sĩ, hơi thở vào ra thuộc về thân, tùy thuộc thân nên gọi là thân hành. Người ta trước hết khởi tầm và tứ, sau đó mới phát lời nói, nên tầm và tứ gọi là khẩu hành. Thọ và tưởng thuộc về tâm, tùy thuộc tâm, nên gọi là ý hành.”

– “Thật vi diệu, bạch Tôn giả. Bạch Tôn giả, thế nào là sự chứng đạt diệt thọ tưởng định?”– “Này cư sĩ, khi một Tỳ khưu chứng đạt diệt thọ tưởng định, vị ấy không nghĩ: ‘Ta sẽ chứng đạt’, ‘Ta đang chứng đạt’ hay ‘Ta đã chứng đạt’. Mà đúng hơn, tâm vị ấy đã được tu tập từ trước theo một cách đưa đến trạng thái ấy.”

– “Thật vi diệu, bạch Tôn giả. Khi một Tỳ khưu chứng đạt diệt thọ tưởng định, trong ba hành ấy – thân hành, khẩu hành, ý hành – cái nào diệt trước?”

– “Này cư sĩ, khi một Tỳ khưu chứng đạt diệt thọ tưởng định, trước hết khẩu hành diệt, sau đó thân hành, rồi đến ý hành.”

– “Thật vi diệu, bạch Tôn giả. Vậy có gì khác nhau giữa một người đã chết và một Tỳ khưu chứng đạt diệt thọ tưởng định?”

– “Này cư sĩ, người đã chết thì thân hành, khẩu hành, ý hành đều diệt và hoại; mạng căn đã diệt, hơi ấm thân thể mất, căn môn tan rã. Còn Tỳ khưu chứng đạt diệt thọ tưởng định thì thân hành, khẩu hành, ý hành cũng diệt, nhưng mạng căn chưa diệt, hơi ấm còn, các căn yên tĩnh. Đây là sự sai khác.”

– “Bạch Tôn giả, thế nào là xuất khỏi diệt thọ tưởng định?”

– “Này cư sĩ, khi một Tỳ khưu xuất khỏi diệt thọ tưởng định, vị ấy cũng không nghĩ: ‘Ta sẽ xuất’, ‘Ta đang xuất’, ‘Ta đã xuất’. Mà tâm vị ấy đã được tu tập từ trước theo cách đưa đến trạng thái ấy.”

 – “Bạch Tôn giả, khi xuất khỏi diệt thọ tưởng định, trong ba hành ấy cái nào khởi trước?”

– “Này cư sĩ, trước hết ý hành khởi, sau đó thân hành, rồi đến khẩu hành.”

– “Bạch Tôn giả, khi vị ấy đã xuất khỏi diệt thọ tưởng định, có bao nhiêu loại xúc sanh khởi nơi vị ấy?”

– “Này cư sĩ, có ba loại xúc: Không xúc (suññataphassa), Vô tướng xúc (animittaphassa), Vô nguyện xúc (appaṇihitaphassa).”

– “Bạch Tôn giả, khi xuất khỏi diệt thọ tưởng định, tâm vị ấy hướng về đâu?”

– “Này cư sĩ, tâm vị ấy hướng đến viễn ly.”

– “Bạch Tôn giả, có bao nhiêu pháp trợ giúp để chứng đạt diệt thọ tưởng định?”

– “Này cư sĩ, ông hỏi cái lẽ ra phải hỏi trước cùng, nhưng ta sẽ trả lời: Có hai pháp trợ giúp cho sự chứng đạt diệt thọ tưởng định, đó là: Chỉ và quán .”

Chú Thích

Đoạn đối thoại trong bài kinh nầy tương ứng với trong Trung Bộ, kinh số 43 và 44  Tuy nhiên, câu hỏi cuối cùng trong Kinh Kāmabhū lại không có ở MN.

Theo Sớ giải thì cư sĩ Citta  (cũng là bậc Bất Lai, Anāgāmī) vốn chứng diệt thọ tưởng định nên ông hỏi về ba hành.

Ba thuật ngữ kāyasaṅkhāra, vacīsaṅkhāra, cittasaṅkhāra trong ngữ cảnh này không mang nghĩa giống như “hành” (saṅkhāra) trong Duyên khởi.

  • Kāyasaṅkhāra (thân hành): thụ động, nghĩa là cái được tạo nên nhờ thân (hơi thở).
  • Cittasaṅkhāra (ý hành): thụ động, cái được tạo nên nhờ tâm (thọ & tưởng).
  • Vacīsaṅkhāra (khẩu hành): chủ động, cái tạo ra lời nói (tầm & tứ).

“Diệt thọ tưởng định” (saññāvedayitanirodha) = nirodhasamāpatti: định cao nhất, nơi mọi danh pháp (tâm và thuộc tánh) đều ngưng. Chỉ có bậc A-la-hán hoặc Bất Lai đã thành tựu tám định (samādhi) mới có thể nhập.

Trước khi nhập, hành giả tự xác định thời gian cho diệt định: “Sẽ ở trong trạng thái không tâm thức (acittaka) trong khoảng thời gian như vậy.”

Trình tự diệt của ba hành:

  • Khẩu hành (tầm & tứ) diệt trong nhị thiền.
  • Thân hành (hơi thở) diệt trong tứ thiền.
  • Ý hành (thọ & tưởng) diệt khi nhập diệt thọ tưởng định.

Người chết và người nhập diệt khác nhau ở chỗ:

  • Người chết: ba hành đều diệt, nhưng mạng căn hết, thân ấm tắt, căn hoại diệt.
  • Người nhập diệt: ba hành đều dừng, nhưng mạng căn còn, thân ấm còn, căn môn sáng chói.

Sớ giải ví như tấm gương ngoài đường bụi bặm thì mờ, còn tấm gương cất trong hộp thì sáng rực bên trong.

Khi xuất định, hành giả cũng đã định trước: “Sẽ thể nhập trạng thái không tâm thức trong chừng này, rồi sau đó có tâm trở lại.”

Khi xuất khỏi diệt định:

  • Trước tiên tâm Quả (phalasamāpatti) sinh → tức là ý hành khởi.
  • Sau đó, trong tiềm thức bhavaṅga (dòng hữu phần), hơi thở khởi lại → thân hành.
  • Cuối cùng, khi trở lại hoạt động, tầm & tứ sinh → khẩu hành.

Ba loại xúc khi xuất định: Suññataphassa (không xúc), Animittaphassa (vô tướng xúc), Appaṇihitaphassa (vô nguyện xúc) có thể giải thích theo tính chất (saguṇa) hoặc đối tượng (ārammaṇa).

  • Theo tính chất: thiền quả (phalasamāpatti) gọi là “không, vô tướng, vô nguyện”, xúc đi kèm cũng mang tên đó.
  • Theo đối tượng: Niết-bàn gọi là “không”  vì không còn khát ái; gọi là “vô tướng” vì không còn tướng mong cầu; và gọi là “vô nguyện” vì không hướng về tham, sân, si.

Sớ Giải chú thích “Tâm của vị ấy sau khi ra khỏi diệt định nghiêng về viễn ly (viveka), tức hướng về Niết-bàn”.

Để chứng diệt định cần hai yếu tố: Chỉ (samatha) hay định tĩnh và Quán (vipassanā) tức tuệ giác. Sớ giải chú thích: Hành giả phải tuần tự nhập bốn thiền và bốn vô sắc định, rồi quán chiếu vô thường, khổ, vô ngã trên các tầng định ấy, mới đủ năng lực nhập Diệt thọ tưởng định.

Sớ Giải

348. chaṭṭhe kati nu kho bhante saṅkhārāti ayaṃ kira, gahapati, nirodhaṃ valañjeti, tasmā “nirodhapādake saṅkhāre pucchissāmī”ti cintetvā evamāha. theropissa adhippāyaṃ ñatvā puññābhisaṅkhārādīsu anekesu saṅkhāresu vijjamānesupi kāyasaṅkhārādayova ācikkhanto tayo kho gahapatītiādimāha. tattha kāyappaṭibaddhattā kāyena saṅkharīyati nibbattīyatīti kāyasaṅkhāro. vācāya saṅkharoti nibbattetīti vacīsaṅkhāro. cittappaṭibaddhattā cittena saṅkharīyati nibbattīyatīti cittasaṅkhāro. ♦ katamo pana bhanteti idha kiṃ pucchati? “ime saṅkhārā aññamaññaṃ missā āluḷitā avibhūtā duddīpanā. tathā hi kāyadvāre ādānaggahaṇamuñcanacopanāni pāpetvā uppannā aṭṭha kāmāvacarakusalacetanā dvādasa akusalacetanāti evaṃ kusalākusalā vīsati cetanāpi, assāsapassāsāpi kāyasaṅkhārotveva vuccanti. vacīdvāre hanusañcopanaṃ vacībhedaṃ pāpetvā uppannā vuttappakārāva vīsati cetanāpi vitakkavicārāpi vacīsaṅkhārotveva vuccanti. kāyavacīdvāresu copanaṃ apatvā raho nisinnassa cintayato uppannā kusalākusalā ekūnatiṃsacetanāpi, saññā ca vedanā cāti ime dve dhammāpi cittasaṅkhārotveva vuccanti. evaṃ ime saṅkhārā aññamaññaṃ missā āluḷitā avibhūtā duddīpanā, te pākaṭe vibhūte katvā kathāpessāmī”ti pucchi. ♦ kasmā pana bhanteti idha kāyasaṅkhārādināmassa padatthaṃ pucchati. tassa vissajjane kāyappaṭibaddhāti kāyanissitā. kāye sati honti, asati na honti. cittappaṭibaddhāti cittanissitā. citte sati honti, asati na honti. ♦ idāni “kiṃ nu kho esa saññāvedayitanirodhaṃ valañjeti, no valañjeti, ciṇṇavasī vā tattha no ciṇṇavasī”ti jānanatthaṃ pucchanto kathaṃ pana bhante saññāvedayitanirodhasamāpatti hotīti āha. tassa vissajjane samāpajjissanti vā samāpajjāmīti vā padadvayena nevasaññānāsaññāyatanasamāpattikālo kathito. samāpannoti padena antonirodho. tathā purimehi dvīhi padehi sacittakakālo kathito, pacchimena acittakakālo. ♦ pubbeva tathā cittaṃ bhāvitaṃ hotīti nirodhasamāpattito pubbe addhānaparicchedakāleyeva “ettakaṃ kālaṃ acittako bhavissāmī”ti addhānaparicchedaṃ cittaṃ bhāvitaṃ hoti. yaṃ taṃ tathattāya upanetīti yaṃ pana evaṃ bhāvitaṃ cittaṃ, taṃ puggalaṃ tathattāya acittakabhāvāya upaneti. vacīsaṅkhāro paṭhamaṃ nirujjhatīti sesasaṅkhārehi paṭhamaṃ dutiyajjhāneyeva nirujjhati. tato kāyasaṅkhāroti tato paraṃ kāyasaṅkhāro catutthajjhāne nirujjhati. tato cittasaṅkhāroti tato paraṃ cittasaṅkhāro antonirodhe nirujjhati. āyūti rūpajīvitindriyaṃ. viparibhinnānīti upahatāni vinaṭṭhāni. ♦ tattha keci “nirodhasamāpannassa ‘cittasaṅkhāro ca niruddho’ti vacanato cittaṃ aniruddhaṃ hoti, tasmā sacittakāpi ayaṃ samāpattī”ti vadanti. te vattabbā — “vacīsaṅkhāropissa niruddho”ti vacanato vācā aniruddhā hoti, tasmā nirodhasamāpannena dhammampi kathentena sajjhāyampi karontena nisīditabbaṃ siyā. yo cāyaṃ mato kālaṅkato, tassāpi cittasaṅkhāro niruddhoti vacanato cittaṃ aniruddhaṃ bhaveyya, tasmā kālaṅkate mātāpitaro vā arahante vā jhāpentena ānantariyakammaṃ kataṃ bhaveyya. iti byañjane abhinivesaṃ akatvā ācariyānaṃ naye ṭhatvā attho upaparikkhitabbo. attho hi paṭisaraṇaṃ, na byañjanaṃ. ♦ indriyāni vippasannānīti kiriyamayapavattasmiñhi vattamāne bahiddhārammaṇesu pasāde ghaṭṭentesu indriyāni kilamanti, upahatāni makkhittāni viya honti vātādīhi uṭṭhitarajena catumahāpathe ṭhapitāadāso viya. yathā pana thavikāya pakkhipitvā mañjūsādīsu ṭhapito ādāso antoyeva virocati, evaṃ nirodhasamāpannassa bhikkhuno antonirodhe pañca pasādā ativiya virocanti. tena vuttaṃ “indriyāni vippasannānī”ti. ♦ vuṭṭhahissanti vā vuṭṭhahāmīti vā padadvayena antonirodhakālo kathito, vuṭṭhitoti padena phalasamāpattikālo. tathā purimehi dvīhi padehi acittakakālo kathito, pacchimena sacittakakālo. pubbeva tathā cittaṃ bhāvitaṃ hotīti nirodhasamāpattito pubbe addhānaparicchedakāleyeva “ettakaṃ kālaṃ acittako hutvā tato paraṃ sacittako bhavissāmī”ti addhānaparicchedaṃ cittaṃ bhāvitaṃ hoti. yaṃ taṃ tathattāya upanetīti yaṃ evaṃ bhāvitaṃ cittaṃ, taṃ puggalaṃ tathattāya sacittakabhāvāya upaneti. iti heṭṭhā nirodhasamāpajjannakālo gahito, idha nirodhato vuṭṭhānakālo. ♦ idāni nirodhakathaṃ kathetuṃ kāloti nirodhakathā kathetabbā siyā. sā panesā “dvīhi balehi samannāgatattā tayo ca saṅkhārānaṃ paṭipassaddhiyā soḷasahi ñāṇacariyāhi navahi samādhicariyāhi vasībhāvatāpaññā nirodhasamāpattiyaṃ ñāṇan”ti mātikaṃ ṭhapetvā sabbākārena visuddhimagge kathitā, tasmā tattha kathitanayeneva gahetabbā. ko panāyaṃ nirodho nāma? catunnaṃ khandhānaṃ paṭisaṅkhā appavatti. atha kimatthametaṃ samāpajjantīti? saṅkhārānaṃ pavatte ukkaṇṭhitā sattāhaṃ acittakā hutvā sukhaṃ viharissāma, diṭṭhadhammanibbānaṃ nāmetaṃ yadidaṃ nirodhoti etadatthaṃ samāpajjanti. ♦ cittasaṅkhāro paṭhamaṃ uppajjatīti nirodhā vuṭṭhahantassa hi phalasamāpatticittaṃ paṭhamaṃ uppajjati. taṃsampayuttaṃ saññañca vedanañca sandhāya “cittasaṅkhāro paṭhamaṃ uppajjatī”ti āha. tato kāyasaṅkhāroti tato paraṃ bhavaṅgasamaye kāyasaṅkhāro uppajjati. ♦ kiṃ pana phalasamāpatti assāsapassāse na samuṭṭhāpetīti? samuṭṭhāpeti. imassa pana catutthajjhānikā phalasamāpatti, sā na samuṭṭhāpeti. kiṃ vā etena? phalasamāpatti paṭhamajjhānikā vā hotu dutiyatatiyacatutthajjhānikā vā, santasamāpattito vuṭṭhitassa bhikkhuno assāsapassāsā abbohārikā honti, tesaṃ abbohārikabhāvo sañjīvattheravatthunā veditabbo. sañjīvattherassa hi samāpattito vuṭṭhāya kiṃsukapupphasadise vītaccitaṅgāre maddamānassa gacchato cīvare aṃsumattampi na jhāyi, usmākāramattampi nāhosi. samāpattibalaṃ nāmetanti vadanti. evameva santāya phalasamāpattiyā vuṭṭhitassa bhikkhuno assāsapassāsā abbohārikā hontīti bhavaṅgasamayenevetaṃ kathitanti veditabbaṃ. ♦ tato vacīsaṅkhāroti tato paraṃ kiriyamayapavattavalañjanakāle vacīsaṅkhāro uppajjati. kiṃ bhavaṅgaṃ vitakkavicāre na samuṭṭhāpetīti? samuṭṭhāpeti. taṃsamuṭṭhānā pana vitakkavicārā vācaṃ abhisaṅkhātuṃ na sakkontīti kiriyamayapavattavalañjanakālenevetaṃ kathitaṃ. ♦ suññato phassotiādayo saguṇenāpi ārammaṇenāpi kathetabbā. saguṇena tāva suññatā nāma phalasamāpatti, tāya sahajātaphassaṃ sandhāya “suññato phasso”ti vuttaṃ. animittappaṇihitesupi eseva nayo. ārammaṇena pana nibbānaṃ rāgādīhi suññattā suññatā nāma, rāganimittādīnaṃ abhāvā animittaṃ, rāgadosamohappaṇidhīnaṃ abhāvā appaṇihitaṃ, suññataṃ nibbānaṃ ārammaṇaṃ katvā uppannaphalasamāpattisamphasso suññato nāma. animittappaṇihitesupi eseva nayo. ♦ aparā āgamaniyakathā nāma hoti. suññatānimittāppaṇihitāti hi vipassanāpi vuccati. tattha yo bhikkhu saṅkhāre aniccato pariggahetvā aniccato disvā aniccato vuṭṭhāti, tassa vuṭṭhānagāminivipassanā animittā nāma hoti. yo dukkhato pariggahetvā dukkhato disvā dukkhato vuṭṭhāti, tassa appaṇihitā nāma. yo anattato pariggahetvā anattato disvā anattato vuṭṭhāti, tassa suññatā nāma. tattha animittavipassanāya maggo animitto nāma, animittamaggassa phalaṃ animittaṃ nāma, animittaphalasamāpattisahajāte phasse phusante “animitto phasso phusatī”ti vuccati. appaṇihitasuññatesupi eseva nayo. āgamaniyena kathite pana suññato vā phasso animitto vā phasso appaṇihito vā phassoti vikappo āpajjeyya, tasmā saguṇena ceva ārammaṇena ca kathetabbaṃ. evañhi tayo phassā phusantīti sameti. ♦ vivekaninnantiādīsu nibbānaṃ viveko nāma. tasmiṃ viveke ninnaṃ onatanti vivekaninnaṃ. vivekapoṇanti aññato agantvā yena viveko, tena vaṅkaṃ viya hutvā ṭhitanti vivekapoṇaṃ. yena viveko, tena patamānaṃ viya ṭhitanti vivekapabbhāraṃ.

 

Sớ Giải 348 – Kāmabhū Sutta II

Về câu hỏi “Có bao nhiêu loại hành (saṅkhāra)?”
Citta cư sĩ thực ra muốn hướng đến Diệt thọ tưởng định, nên mới khởi lên ý: “Ta sẽ hỏi về những hành làm nền tảng cho diệt định”. Dù có nhiều loại saṅkhāra (như thiện, bất thiện…), nhưng Tôn giả Kāmabhū chỉ nêu 3 loại thân hành, khẩu hành, ý hành.

o    Thân hành: vì gắn liền với thân (hơi thở vào ra).

o    Khẩu hành: vì gắn với lời nói (tầm và tứ).

o    Ý hành: vì gắn với tâm (thọ và tưởng).

Vì sao Citta hỏi “Cái nào là thân hành, khẩu hành, ý hành?”
Bởi vì trong thực tế, các hành đan xen lẫn nhau, khó phân biệt. Ví dụ:

o    Khi qua thân môn: hành động nắm, giữ, thả… sinh ra 20 loại tâm thiện/bất thiện, nhưng hơi thở vẫn được tính là thân hành.

o    Qua khẩu môn: các cử động lưỡi, môi… sinh ra 20 loại tâm thiện/bất thiện, nhưng tầm và tứ vẫn được gọi là khẩu hành.

o    Khi ngồi yên một mình suy nghĩ, phát sinh 29 loại tâm thiện/bất thiện, nhưng thọ và tưởng vẫn được tính là ý hành.

Do vậy, Citta muốn xin Tôn giả làm rõ, phân minh, để khỏi lẫn lộn.

Tại sao hơi thở gọi là thân hành?
Vì tùy thuộc thân mà có; khi thân còn thì còn, thân hoại thì diệt.
Tương tự: khẩu hành nương vào tâm trước khi thành lời; ý hành nương vào tâm trực tiếp.

Chứng Diệt thọ tưởng định

  • Không phải do khởi niệm “Ta sẽ chứng” mà được, mà do tâm đã được tu tập trước, hướng về đó.
  • Khi nhập định, khẩu hành diệt trước, rồi đến thân hành, cuối cùng ý hành.

Khác nhau giữa người chết và người chứng Diệt thọ tưởng định

  • Người chết: cả ba hành diệt, nhưng mạng căn mất, hơi ấm tan, các căn hư hoại.
  • Người nhập diệt định: ba hành cũng diệt, nhưng mạng căn còn, hơi ấm còn, các căn sáng chói, an tĩnh.

Xuất khỏi Diệt thọ tưởng định

  • Khi xuất, không khởi niệm “Ta sẽ xuất”, mà do tâm đã được huân tập trước.
  • Khi xuất, ý hành sinh trước, rồi thân hành, sau cùng khẩu hành.

Loại xúc sau khi xuất định
Có 3:

  • Không xúc (suññataphassa): xúc với Niết-bàn rỗng không tự ngã.
  • Vô tướng xúc (animittaphassa): xúc với Niết-bàn lìa mọi tướng.
  • Vô nguyện xúc (appaṇihitaphassa): xúc với Niết-bàn không còn ước vọng.

Tâm hướng đến đâu?
Tâm hướng về viễn ly (viveka), tức xu hướng lìa xa phiền não, trú trong tịch tĩnh.

Điều kiện để chứng Diệt thọ tưởng định
Có 2:

  • Chỉ (samatha, định tĩnh).
  • Quán (vipassanā, tuệ).

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình  

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

VI. Kàmabhù (2) (S.iv,193)

1) Một thời Tôn giả Kàmabhù trú tại Macchikàsanda, tại rừng Ambàtaka.

2) Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Kàmabhà; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Kàmabhù, rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa Tôn giả Kàmabhù:

-- Bạch Thượng tọa, có bao nhiêu hành tất cả?

-- Này Gia chủ có ba hành: thân hành, khẩu hành và ý hành.

-- Lành thay, bạch Thượng tọa.

Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói, rồi hỏi thêm Tôn giả Kàmabhù một câu nữa:

-- Bạch Thượng tọa, thế nào là thân hành? Thế nào là khẩu hành? Thế nào là ý hành?

-- Hơi thở vô, hơi thở ra, này Gia chủ, là thân hành. Tầm và tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ là ý hành.

-- Lành thay, bạch Thượng tọa.

Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói... hỏi thêm câu hỏi nữa:

5) -- Vì sao, bạch Thượng tọa, thở vô thở ra là thân hành? Vì sao tầm và tứ là khẩu hành? Vì sao tưởng và thọ là ý hành?

-- Thở vô thở ra, này Giả chủ, thuộc về thân. Các pháp này liên hệ đến thân; do vậy, thở vô thở ra là thân hành. Trước phải tầm cầu, tư sát, này Gia chủ, sau mới phát lời nói; do vậy, tầm và tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ thuộc về ý. Những pháp này liên hệ đến tâm; do vậy, tưởng và thọ là ý hành.

-- Lành thay, bạch Thượng tọa.

... hỏi thêm câu hỏi nữa:

6) -- Như thế nào, bạch Thượng tọa, là chứng Diệt thọ tưởng định?

-- Này Gia chủ, Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định không có nghĩ rằng: "Tôi sẽ chứng đạt Diệt thọ tưởng định", hay: "Tôi đang chứng đạt Diệt thọ tưởng định", hay: "Tôi đã chứng đạt Diệt thọ tưởng định". Do tâm vị ấy trước đã được tu tập như vậy, nên đưa đến thành tựu như thật như vậy.

-- Lành thay...

... hỏi thêm câu nữa:

7) -- Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, những pháp nào được đoạn diệt trước, thân hành, hay khẩu hành, hay ý hành?

-- Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, khẩu hành được diệt trước, thứ đến thân hành, rồi đến ý hành.

-- Lành thay...

... hỏi thêm câu hỏi nữa:

8) -- Bạch Thượng tọa, người đã chết, đã mệnh chung, và Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, giữa những người này có những sai khác gì?

-- Ðối với người đã chết, đã mệnh chung, này Gia chủ, thân hành người ấy được đoạn diệt, được khinh an; khẩu hành được đoạn diệt, được khinh an; ý hành được đoạn diệt, được khinh an, thọ mạng được đoạn tận; sức nóng được tịnh chỉ; các căn bị hủy hoại. Còn Tỷ-kheo đã chứng đạt Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, thân hành được đoạn diệt, khinh an; khẩu hành được đoạn diệt, khinh an; ý hành được đoạn diệt, khinh an; thọ mạng không bị đoạn tận; sức nóng không bị tịnh chỉ; các căn được trong sáng. Này Gia chủ, người đã chết, đã mệnh chung và Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, giữa những người này có những sai khác như vậy.

-- Lành thay...

... hỏi thêm câu hỏi nữa.

9) -- Như thế nào, bạch Thượng tọa, là ra khỏi Diệt thọ tưởng định?

-- Này Gia chủ, Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định không có suy nghĩ: "Tôi sẽ ra khỏi Diệt thọ tưởng định", hay: "Tôi đang ra khỏi Diệt thọ tưởng định", hay: "Tôi đã ra khỏi Diệt thọ tưởng định". Do tâm vị ấy trước đã được tu tập như vậy, nên đưa đến thành tựu như thật như vậy.

-- Lành thay, bạch Thượng tọa...

... hỏi thêm câu hỏi nữa:

10) -- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, pháp nào khởi lên trước, thân hành, khẩu hành, hay ý hành?

-- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, ý hành khởi lên trước, rồi đến thân hành, rồi đến khẩu hành.

-- Lành thay, bạch Thượng tọa...

...hỏi thêm câu hỏi nữa:

11) -- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, cảm giác được bao nhiêu xúc?

-- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định cảm thọ được ba xúc: không xúc, vô tướng xúc, vô nguyện xúc.

-- Lành thay, bạch Thượng tọa.

Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ... và hỏi thêm câu hỏi nữa:

12) -- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng tọa, tâm thiên về đâu, hướng về đâu, nghiêng về đâu?

-- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, tâm vị ấy thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, nghiêng về viễn ly.

-- Lành thay, bạch Thượng tọa.

Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói rồi hỏi thêm câu hỏi nữa:

13) -- Bạch Thượng tọa, có bao nhiêu pháp giúp đỡ nhiều cho sự chứng đắc Diệt thọ tưởng định?

-- Thật sự, này Gia chủ, điều Gia chủ cần phải hỏi trước, Gia chủ lại hỏi sau. Tuy vậy, ta sẽ trả lời cho Gia chủ. Này Gia chủ, có hai pháp giúp đỡ rất nhiều cho Diệt thọ tưởng định được chứng đắc. Ðó là Chỉ và Quán.

-oo0oo-