|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 01 tháng 08, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 003. PHƯỚC HỮU LẬU VÀ PHƯỚC VÔ LẬU - Kinh Cuống Phăng (Upanīyasutta) .. .
Làm việc lành để gặt hái phước báu
vốn là điều tốt đẹp và đáng trân trọng trong đời sống thế gian.
Những hành động bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn… không chỉ
mang lại an lạc hiện tại mà còn tạo nên những quả báo thù thắng,
đưa chúng sanh đến những cảnh giới cao quý hơn trong cõi người,
cõi trời. Đó là con đường thuận duyên, là nền tảng đạo đức vững
chắc giúp cuộc đời bớt khổ đau, thêm phần sáng sủa.Song khi đã nói đến “sanh tử sự đại”,
thì dù phước báu có lớn lao đến đâu, dù sanh vào cõi nào trong
tam giới – dục giới, sắc giới hay vô sắc giới – rồi cũng đến lúc
tuổi thọ chấm dứt. Sanh đã có thì diệt tất nhiên có. Dù là chư
thiên với thọ mạng dài lâu, dù là Phạm thiên an trú trong thiền
định vi diệu, cuối cùng vẫn không thoát khỏi định luật vô
thường. Sanh tử vẫn là dòng chảy bất tận, cuốn trôi tất cả những
gì còn nằm trong vòng hữu vi. Do vậy, muốn vượt thoát “già, chết”,
người hành giả không thể chỉ dừng lại ở việc tích lũy phước báu
thế gian. Cần phải có khả năng buông xả những “mồi nhử” của trần
gian – sắc đẹp, danh vọng, tiện nghi, tình cảm, ngay cả những
quả báo an lạc mà mình đã dày công tạo dựng. Chỉ khi tâm không
còn bị ràng buộc bởi bất kỳ đối tượng nào trong ba cõi, không
còn tham đắm, không còn sợ hãi mất mát, thì dòng sanh tử mới
thực sự bị cắt đứt. Đó mới là con đường dẫn đến chỗ không già,
không chết, chỗ an ổn tuyệt đối. (Bản Việt dịch hai kệ ngôn nầy của Hoà
thượng Thích Minh Châu “đã gắn sâu vào tâm tư” của nhiều thế hệ
tăng ni. Bản dịch mới có thể xem là thêm một cống hiến bên cạnh
bản dịch vốn quen thuộc).
Kinh Văn “Upanīyati jīvitaṃ appam āyu, Jarūpanītassa na santi tāṇā; Etaṃ bhayaṃ maraṇe pekkhamāno, Puññāni kayirātha sukhāvahānī”ti. [Bhagavā:] “Upanīyati jīvitaṃ appam āyu, Jarūpanītassa na santi tāṇā; Etaṃ bhayaṃ maraṇe pekkhamāno, Lokāmisaṃ pajahe santipekkho”ti. Tại Sāvatthī. Đứng một bên, vị
thiên ấy nói lên kệ ngôn này trước Đức Thế Tôn: Đời theo dòng cuốn mãi, [Đức Thế Tôn dạy:]
Đời theo
dòng cuốn mãi,
Chú Thích Theo Sớ giải: Upanīyatī ti parikkhīyati
nirujjhati; upagacchati vā; anupubbena maraṇaṃ upetī ti attho” –
mạng sống bị tiêu hao, diệt mất, hoặc dần dần tiến tới cái chết.
Không chỉ nói tuổi thọ dài ngắn theo năm tháng, mà nhấn mạnh
tính chất bị đẩy đi không ngừng của dòng sanh mạng.
Appam āyu nghĩa là
“Tuổi thọ ngắn ngủi.” Theo Sớ giải: ngắn
theo hai nghĩa – (a) dù sống lâu cũng chỉ khoảng trăm năm hoặc
hơn một chút; (b) theo nghĩa tuyệt đối, mỗi sát-na tâm
(citta-kkhaṇa) đã là một đời sống cực ngắn.
Jarūpanītassa na
santi tāṇā nghĩa là “Người
đã bị già dẫn đi thì không còn chỗ nương tựa”. Tāṇa = chỗ che
chở, nơi ẩn náu. Khi già đã đến, thân thể, của cải, thân nhân…
đều không còn khả năng bảo vệ khỏi cái chết.
Puññāni kayirātha
sukhāvahānī (lời chư thiên): “Làm các việc phước
đem lại an lạc”. Theo Sớ Giải, vị chư thiên này vốn tái sanh ở
cõi Phạm thiên tuổi thọ dài. Khi thấy chúng sanh chết rồi sanh
vào các cõi tuổi thọ ngắn, ngài động lòng thương và khuyến khích
làm phước (đặc biệt là các thiền sắc giới, vô sắc giới) để được
tái sanh nơi tuổi thọ dài.
Lokāmisaṃ pajahe
santipekkho (lời Đức Phật). Lokāmisa nghĩa là mồi
câu của thế gian, miếng mồi thế gian (dục lạc, danh vọng, lợi
dưỡng, sự khen ngợi…). Santipekkho hàm nghỉa người đang hướng
tới sự an tịnh (Nibbāna). Đức Phật nâng lời khuyên của chư thiên
lên mức siêu thế: không dừng lại ở việc làm phước để được tái
sanh tốt, mà phải buông bỏ chính những miếng mồi thế gian để
hướng tới sự an tịnh tối hậu. Chư thiên nói đúng về sự ngắn ngủi của
mạng sống và khuyến khích làm phước. Đức Phật xác nhận hoàn toàn
sự thật ấy, nhưng chỉ ra rằng nếu chỉ dừng lại ở phước báo hữu
lậu thì vẫn còn trong vòng luân hồi. Người chân chính cầu an
tịnh phải thấy rõ hiểm nguy của cái chết đến mức từ bỏ luôn cả
những thứ thế gian vốn là “mồi câu” dẫn dắt tâm.
Sớ Giải
3. tatiye upanīyatīti parikkhīyati nirujjhati, upagacchati vā, anupubbena
maraṇaṃ upetīti attho. yathā vā gopālena gogaṇo nīyati, evaṃ
jarāya maraṇasantikaṃ upanīyatīti attho. jīvitanti
jīvitindriyaṃ. appanti parittaṃ thokaṃ. tassa dvīhākārehi
parittatā veditabbā sarasaparittatāya ca khaṇaparittatāya ca.
sarasaparittatāyapi hi “yo, bhikkhave, ciraṃ jīvati, so
vassasataṃ appaṃ vā bhiyyo”ti (dī. ni. 2.7; saṃ. ni. 2.143)
vacanato parittaṃ. khaṇaparittatāyapi. paramatthato hi
atiparitto sattānaṃ jīvitakkhaṇo ekacittappavattimattoyeva.
yathā nāma rathacakkaṃ pavattamānampi ekeneva nemippadesena
pavattati, tiṭṭhamānampi ekeneva tiṭṭhati, evamevaṃ
ekacittakkhaṇikaṃ sattānaṃ jīvitaṃ, tasmiṃ citte niruddhamatte
satto niruddhoti vuccati. yathāha — atīte cittakkhaṇe jīvittha
na jīvati na jīvissati, anāgate cittakkhaṇe jīvissati na jīvati
na jīvittha, paccuppanne cittakkhaṇe jīvati na jīvittha na
jīvissati.
“jīvitaṃ attabhāvo ca, sukhadukkhā ca kevalā.
ekacittasamāyuttā, lahuso vattate khaṇo.
“ye niruddhā marantassa, tiṭṭhamānassa vā idha.
sabbepi sadisā khandhā, gatā appaṭisandhikā.
“anibbattena na jāto, paccuppannena jīvati.
cittabhaṅgā mato loko, paññatti paramatthiyā”ti. (mahāni. 10).
jarūpanītassāti jaraṃ upagatassa, jarāya vā maraṇasantikaṃ upanītassa. na
santi tāṇāti tāṇaṃ leṇaṃ saraṇaṃ bhavituṃ samatthā nāma keci
natthi. etaṃ bhayanti etaṃ jīvitindriyassa maraṇūpagamanaṃ,
āyuparittatā, jarūpanītassa tāṇābhāvoti tividhaṃ bhayaṃ
bhayavatthu bhayakāraṇanti attho. puññāni kayirātha
sukhāvahānīti viññū puriso sukhāvahāni sukhadāyakāni puññāni
kareyya. iti devatā rūpāvacarajjhānaṃ sandhāya pubbacetanaṃ
aparacetanaṃ muñcacetanañca gahetvā bahuvacanavasena “puññānī”ti
āha. jhānassādaṃ jhānanikantiṃ jhānasukhañca gahetvā
“sukhāvahānī”ti āha. tassā kira devatāya sayaṃ dīghāyukaṭṭhāne
brahmaloke nibbattattā heṭṭhā kāmāvacaradevesu parittāyukaṭṭhāne
cavamāne upapajjamāne ca thullaphusitake vuṭṭhipātasadise satte
disvā etadahosi “ahovatime sattā jhānaṃ bhāvetvā aparihīnajjhānā
kālaṃ katvā brahmaloke
ekakappa-dvekappa-catukappa-aṭṭhakappa-soḷasakappa-dvattiṃsakappa-catusaṭṭhikappappamāṇaṃ
addhānaṃ tiṭṭheyyun”ti. tasmā evamāha.
atha bhagavā — “ayaṃ devatā aniyyānikaṃ vaṭṭakathaṃ kathetī”ti vivaṭṭamassā
dassento dutiyaṃ gāthamāha. tattha lokāmisanti dve lokāmisā
pariyāyena ca nippariyāyena ca. pariyāyena tebhūmakavaṭṭaṃ
lokāmisaṃ, nippariyāyena cattāro paccayā. idha pariyāyalokāmisaṃ
adhippetaṃ. nippariyāyalokāmisampi vaṭṭatiyeva. santipekkhoti
nibbānasaṅkhātaṃ accantasantiṃ pekkhanto icchanto patthayantoti. 3. Trong bài kinh thứ ba,
upanīyati
nghĩa là: bị tiêu hao, diệt mất, hoặc tiến tới, cuốn
phăng nghĩa là dần dần đi đến cái chết. Hoặc ví như đàn bò bị
người chăn dẫn đi, cũng vậy, [mạng sống] bị già dẫn đến gần cái
chết.
Jīvitaṃ là
mạng căn (jīvitindriya).
Appaṃ nghĩa là ít ỏi, nhỏ nhoi.
Tính chất ít ỏi của nó cần được hiểu theo hai phương diện: ít ỏi
theo bản chất tự nhiên (sarasaparittatā) và ít ỏi theo sát-na
(khaṇaparittatā).
“Trong sát-na tâm quá khứ: đã sống, không
đang sống, sẽ không sống; Trong sát-na tâm vị lai: sẽ sống,
không đang sống, đã không sống; Trong sát-na tâm hiện tại: đang
sống, đã không sống, sẽ không sống.” Và [có kệ ngôn]: “Mạng sống và tự thân, Cùng với khổ vui
thuần túy, Đều tương ưng với một tâm, Sát-na diễn tiến rất
nhanh. Những uẩn đã diệt của người đang chết hay
của người đang sống ở đây, Tất cả đều giống nhau, Đã đi rồi,
không còn tái tục. Không do cái chưa sanh mà được sanh, Sống
nhờ cái hiện tại; Khi tâm diệt thì thế gian chết, Đó là chế định
theo nghĩa tuyệt đối.” (Mahāniddesa 10)
Jarūpanītassa
nghĩa là người đã đi đến già, hoặc người bị già dẫn đến gần cái
chết.
Na santi tāṇā nghĩa là không có ai có khả năng trở thành
chỗ nương tựa, chỗ ẩn náu, chỗ quy y [cho người ấy].
Etaṃ bhayaṃ
nghĩa là mối hiểm nguy này gồm ba thứ: sự mạng căn đi đến cái
chết, sự ngắn ngủi của tuổi thọ, và sự không còn chỗ nương tựa
của người đã bị già dẫn đi. Đó là đối tượng của sợ hãi, là nhân
của sợ hãi.
Puññāni kayirātha
sukhāvahānī nghĩa là người có trí hãy làm các việc
phước đem lại an lạc, mang lại hạnh phúc. Vị chư thiên nói
“puññāni” (các việc phước) ở số nhiều là vì lấy cả tiền hành tư
(pubbacetanā), hậu hành tư (aparacetanā) và xuất hành tư
(muñcacetanā) liên quan đến thiền sắc giới. Nói “sukhāvahānī”
(đem lại an lạc) là vì lấy cả sự thích thú thiền (jhānassāda),
sự luyến ái thiền (jhānanikanti) và sự an lạc của thiền
(jhānasukha). Nghe rằng vị chư thiên ấy vì chính mình đã
tái sanh ở cõi Phạm thiên tuổi thọ dài, nên khi thấy các chúng
sanh ở các cõi dục giới thấp hơn, nơi tuổi thọ ngắn ngủi, đang
chết và đang tái sanh giống như những hạt mưa lớn rơi xuống,
liền khởi lên ý nghĩ: “Ôi, phải chi các chúng sanh này tu tập
thiền, giữ thiền không thối thất, rồi chết đi và an trú ở cõi
Phạm thiên trong thời gian dài bằng một kiếp, hai kiếp, bốn
kiếp, tám kiếp, mười sáu kiếp, ba mươi hai kiếp, hay sáu mươi
bốn kiếp!” Vì thế ngài mới nói như vậy. Khi ấy Đức Thế Tôn nghĩ: “Vị chư thiên này
đang nói lời thuộc về luân hồi, không dẫn đến xuất ly”, nên Ngài
nói bài kệ thứ hai để chỉ cho vị ấy thấy con đường xuất ly khỏi
luân hồi. Trong đó, lokāmisaṃ có hai loại: theo cách gián tiếp (pariyāya) và theo cách
trực tiếp (nippariyāya).
Santipekkho
nghĩa là người đang nhìn, đang ước muốn, đang mong cầu sự an
tịnh tuyệt đối được gọi là niết bàn.
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
IV. Thời Gian Trôi Qua (Biệt
Tạp 8.8, Ðại 2,427b) (S.i,3)
... Nhân duyên ở (Sàvatthi ), đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên
bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thời gian lặng trôi qua,
(Thế Tôn):
Thời gian lặng trôi qua,
|