|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 06 tháng 12, 2021
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN Bài 17. GIÁO HOÁ VỚI NHIỀU PHƯƠNG TIỆN (VI)
Đức Thế Tôn là Phật. Là bậc giác ngộ và khai ngộ chúng sanh
hiểu rõ lẽ thật. Lãnh hội sự thật không đơn giản như phát
khởi lòng tin ở thần linh hay cá nhân nào đó. Chúng sanh vốn
dị biệt về căn cơ, không đồng đẳng về phúc đức, đa dạng
trong khả năng nhận thức. Để chuyển hoá và khai ngộ cuộc
đời, Đức Phật đã phải dùng rất nhiều phương tiện khác nhau.
Bá gia thì bá tánh. Muôn người thì muôn bệnh. Trăm cái khổ
không cái nào giống cái nào. Kho tàng mênh mông của ba tạng
kinh điển đã ghi lại rất nhiều câu chuyện, mà qua đó, cho
chúng ta thấy được tâm đại bi vô lượng của Đức Thế Tôn trong
sự giáo hoá chúng sanh ngộ nhập tri kiến giải thoát.
Cảm hoá hung thần
Không
phải chỉ có loài người mang nhiều nhiều tánh ý dị biệt mà
chư thiên, đặc biệt là chư thiên cõi thấp, tâm tánh rất da
dạng phức tạp.
Đức Phật là Đấng
Thiên Nhân Sư nên Ngài không chỉ mang ánh sáng chánh pháp
đến cho nhân loại mà còn dùng Phật pháp chuyển hoá thiên
chúng.
Hung thần Alavaka là một địa tiên tánh khí hung hãn nhưng
lại có thần lực muốn áp đảo Đức Phật bằng sức mạnh của mình.
Vị nầy cũng còn học được một số câu hỏi vốn có từ thời Phật
Kassapa nhưng lại không biết câu trả lời. Không dùng sức
thắng được Đức Phật, hung thần lại dùng mưu. Vị nầy nêu lên
những câu hỏi khó và nghĩ rằng Đức Phật nhất thời sẽ không
có câu giải đáp thoả đáng.
Hình 49
Bài kinh sau đây thuật lại câu chuyện Phật cảm hoá
hung thần:
Một thời Thế Tôn trú ở Alavi, tại trú xứ của Dạ-xoa Alavaka. Rồi
Dạ-xoa Alavaka đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói với
Thế Tôn:
- Này Sa-môn, hãy đi ra.
- Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Ngài. Nếu Ngài không trả lời cho ta,
ta sẽ làm tâm trí Ngài điên loạn, hay ta sẽ bóp nát quả tim
của Ngài, hay nắm chân của Ngài, ta sẽ quăng qua bờ sông bên
kia sông Hằng.
- Này Hiền giả, Ta không thấy một ai trong thế giới với chư
Thiên, với Ác ma và với Phạm thiên, trong quần chúng Sa-môn,
Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người, lại có thể làm tâm Ta
điên loạn, hay bóp nát quả tim của Ta, hay nắm chân quăng Ta
qua bên kia bờ sông Hằng. Tuy vậy, này Hiền giả, Ông cứ hỏi
như ý Ông muốn.
Rồi Dạ-xoa với bài kệ nói với Thế Tôn:
Alavaka:
181. Ở đời, tài sản gì,
Thế Tôn:
182. Ở đời này, lòng tin,
Alavaka:
183. Thế nào vượt bộc lưu?
Thế Tôn:
184. Với tín, vượt bộc lưu,
Alavaka:
185. Thế nào được trí tuệ?
Thế Tôn:
186. Tin tưởng bậc La-hán,
187. Làm thích đáng trách nhiệm,
188. Ai là người gia chủ,
189. Hãy hỏi các vị khác,
Alavaka:
190. Sao nay con rộng hỏi,
191. Vì hạnh phúc cho con,
192. Con sẽ đi bộ hành,
Trích Kinh Tập, phẩm X, Kinh Alavaka (Sn 31). Bản dịch của HT Thích Minh
Châu.
Đối diện với kẻ vu khống
Trước
sự phát triển rộng lớn của Phật Pháp khắp mười sáu quốc độ
vùng Trung Thổ, nhiều ngoài giáo tìm cách hạ uy tín của Đức
Phật.
Ngoài
những xuyên tạc, tranh luận đôi khi ngoại giáo còn sử dụng
những thủ đoạn vu khống nặng nề. Bài học lớn cho thế hệ mai
hậu là thái độ của Bậc Đạo Sư trước những trường hợp như
vậy.
Cincamànavikà là một mỹ nữ theo ngoại
đạo được hướng dẫn lập mưu vu cáo Đức Phật. Sự kiện
trở thành một chuyện kể lưu truyền rộng rãi nhiều thế hệ sau
nầy. Ngày nay di tích nơi đất sụp khiến nàng Ciñca chết thảm
vẫn còn ở tại Savatthi.
Hình 48
Câu chuyện sau đây ghi lại diễn biến sự kiện vu
khống Đức Trọn Lành:
Khi đấng Thập Lực mới đạt Vô thượng Chánh Ðẳng Giác, sau đó
chúng đệ tử này càng đông đảo, vô số chư Thiên và loài
người đã được sinh lên Thiên giới, hạt duyên lành gieo rắc
khắp nơi, nên Ngài được uy danh lừng lẫy và lễ vật cúng
dường cao trọng. Bọn ngoại đạo tà giáo chẳng khác nào
bầy đom đóm sau buổi bình minh, họ chẳng còn danh vọng, lợi
dưỡng cúng dường nữa; họ liền ra giữa đường hét lớn vào đám
dân chúng:
- Nay sao, Sa-môn Gotama là bậc Giác Ngộ à? Chúng ta cũng là
những bậc Giác Ngộ. Chỉ có các lễ vật cúng dường cho vị ấy
mới mang lại kết quả lớn sao? Những vật cúng dường cho chúng
ta cũng mang lại kết quả lớn cho các ngươi. Vậy các ngươi
hãy cúng dường cho chúng ta, phục vụ chúng ta nữa chứ?
Song dù họ kêu gào mãi, họ cũng chẳng hưởng được danh vọng
lợi dưỡng nào cả. Sau đó họ bí mật họp nhau lại, và bàn bạc
vấn kế:
- Làm thế nào ta có thể gây ô nhục cho sa môn Gotama trước
mặt công chúng để chấm dứt danh vọng lợi dưỡng cúng dường
của ông ấy đây?
Lúc bấy giờ tại Xá-vệ có một cô gái kia tên là
Cincamànavikà, vẻ đẹp tuyệt trần, dáng kiều diễm mảnh mai,
như một nữ thần, ánh sáng như tỏa ra từ thân thể nàng. Có
người bày mưu kế ác độc như sau:
- Nhờ Cincamànavikà giúp sức, ta
có thể gây ô nhục cho Sa-môn Gotama và chấm dứt danh vọng
lợi dưỡng mà ông đang hưởng.
- Phải lắm, cả bọn đồng ý. Ta phải làm cách ấy đấy.
Khi nàng ấy đến chỗ tu hành của bọn ngoại đạo tà giáo, đảnh
lễ họ rồi đứng yên, bọn tà đạo sư không nói gì với nàng cả.
Nàng hỏi:
- Con có lỗi gì chăng? Con đã chào các Tôn giả ba lần rồi.
Nàng lại bảo:
- Thưa các Tôn giả, tại sao các vị không nói gì với con?
Họ đáp:
- Này chị, chị có biết Sa-môn Gotama đang du hành qua đây và
làm hại chúng ta, làm mất hết mọi danh vọng và lợi dưỡng
cúng dường mà chúng ta đã được hưởng trước kia chăng?
- Thưa các Tôn giả, con không biết việc đó, nhưng con có thể
làm gì được?
- Này chị, nếu chị muốn chúng ta được tốt lành thì hãy tự
mình gây ô nhục cho Sa-môn Gotama để chấm dứt danh vọng lợi
dưỡng mà vị ấy đang hưởng.
Nàng đáp:
- Thưa các Tôn giả, được lắm, xin để việc ấy cho con đừng lo
lắng gì nữa.
Nói vậy xong nàng từ giã ra đi.
Sau đó nàng dùng mọi xảo thuật của nữ nhân để đánh lừa người
đời. Khi dân chúng ở Xá-vệ nghe Pháp xong và ra về từ Kỳ
Viên, nàng lại thường đi về phía Kỳ Viên, khoác chiếc y
nhuộm màu đỏ yên chi, tay cầm vòng hoa thơm ngát. Khi có ai
hỏi nàng:
- Ði đâu vào giờ này?
Nàng thưởng trả lời:
- Các vị có liên quan gì đến việc tôi di, tôi về mà hỏi?
Nàng cứ ở lại ban đêm trong am thất của bọn tà đạo sư ấy,
sát gần Kỳ Viên, rồi đến sáng sớm mai, khi các cư sĩ cận sự
của Tăng chúng từ kinh thành đến đảnh lễ Tăng chúng buổi
sáng, nàng thường hay gặp gỡ họ như thể nàng đã ở lại
ban đêm tại Kỳ Viên rồi đi về kinh thành. Nếu có ai hỏi
nàng đã ở lại nơi đâu, nàng liền trả lời:
- Tôi ở lại nơi đâu thì có việc gì đến các vị?
Song sau chừng sáu tuần lễ, nàng đáp:
- Tôi ở ban đêm tại Kỳ Viên với Sa-môn Gotama trong Hương
phòng.
Các người ngoại đạo bắt đầu thắc mắc không biết việc ấy có
đúng chăng. Sau chừng ba bốn tháng, nàng lại quấn nhiều lớp
vải quanh bụng, làm vẻ như thể nàng đang có thai, và khoác
áo choàng đỏ ra ngoài. Rồi nàng tuyên bố là nàng có thai với
Sa-môn Gotama khiến cho đám người ngu si mù quáng tin theo
lời. Sau chừng tám chín tháng nàng cột quanh người những
miếng gỗ cuộn thành bó, khoác áo đỏ phủ lên, lấy xương hàm
của bò đập vào tay chân thân thể cho sưng phồng to, và làm
ra dáng mệt mỏi.
Một buổi chiều khi đức Như Lai đang ngồi trên bảo tọa thuyết
Pháp, nàng bước vào giữa hội chúng, đứng trước mặt đức Như
Lai và nói:
- Này Ðại sa-môn, quả thực Ngài đang thuyết Pháp cho nhiều
hội chúng; giọng nói của Ngài thật êm ái, nhưng Ngài đã làm
cho tiện thiếp có thai và ngày sanh đã gần kề, tuy thế Ngài
không sắp đặt phòng bảo sanh cho thiếp, Ngài không cho thiếp
bơ tươi hay dầu ăn gì cả. Những việc tự Ngài không muốn làm,
Ngài cũng không nhờ một người cư sĩ nào làm thay thế, như
vua Kosala, Ông Cấp Cô Ðộc hay nữ cận sự Visàkhà. Tại sao
Ngài không bảo một người trong các vị ấy làm những việc cần
cho thiếp? Ngài biết cách hưởng dục lạc, song lại không biết
cách chăm sóc cái kết quả sẽ phát sinh từ đó!
Thế là nàng ta phỉ báng đức như Lai giữa đại chúng như một
người cố ném bùn làm vấy bẩn mặt trăng. Ðức Như Lai ngưng
thuyết giảng và cất lên như tiếng rống sư tử vang dội khắp
nơi:
- Này chị, những điều chị vừa nói đúng hay sai, chỉ mình Ta
và chị biết thôi.
Nàng đáp:
- Ðúng thế, quả thực vậy, việc này xảy ra như thế nào, chỉ
mình Ngài và thiếp biết thôi.
Ngay lúc ấy chiếc ngai vàng của Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ
nóng rực lên. Khi xem xét kỹ, ngài thấy rõ lý do: "Nàng
Cincamànavikà đang vu cáo đức Như Lai về một việc không có
thực." Ngài quyết định làm sáng tỏ vấn đề này, liền cùng bốn
Thiên thần đi đến đó. Các Thiên thần giả dạng bầy chuột đồng
lập tức cắn sợi dây cột bó gỗ kia, rồi một cơn gió thổi tốc
lên chiếc y đỏ nàng mặc, bó gỗ lộ ra và rơi xuống chân nàng,
các ngón chân nàng đều bị đứt lìa cả. Ðại chúng la lớn:
- Một con mụ phù thủy đang vu cáo bậc Chánh Ðẳng Giác.
Ðại chúng liền khạc nhổ lên đầu nàng, lấy gậy gộc, đất đá
xua đuổi nàng ra khỏi Tinh xá Kỳ Viên. Khi nàng đi khuất tầm
mắt của đức Như Lai, đại địa liền há miệng ra thành
một đường nứt khổng lồ, đám lửa từ dưới địa ngục thấp nhất
bốc lên khiến nàng bị bao vây giữa đám lửa như thể trong
chiếc hồng y hôn lễ mà đám bạn sẽ phủ lên nàng, rồi nàng rơi
xuống tầng địa ngục thấp nhất, và tái sinh tại đó. Danh vọng
và lợi dưỡng của đám tà sư vẫn tiêu tan, còn danh và lợi
dưỡng của đấng Thập Lực lại tăng trưởng dồi dào hơn nữa.
Trích Câu Chuyện Tiền Thân. Kinh 472. Chuyện Vương Tử Liên Hoa
(Tiền thân Mahà - Paduma) - bản dịch của GS Trần Phương Lan
Độ người tà kiến
Một trong những việc Đức Phật dùng
nhiều công sức để giáo hoá chúng sanh là thay đổi kiến chấp
vốn ăn sâu vào văn hoá và tín ngưỡng Ấn Độ.
Phải đến tận nơi và tìm hiểu kỹ càng mới thấy được những
quan niệm chấp thủ là bản sắc cố hữu của người Ấn. Đức Phật
thường dùng đạo lý chánh pháp để chuyển hoá nhưng cũng phải
tuỳ căn cơ mỗi cá nhân.
Bà-la-môn Aggikabhàradvàja là một
giáo sĩ chuyên chủ trì những tế đàn thờ lửa, chính do địa vị
và sự hành trì của mình nên vị nầy thù ghét Đức Phật.
Khi vị bà la môn thấy Đức Phật đi đến chỗ mình đang làm lễ
đã dùng lời nặng nhất “kẻ bần tiện” để công kích Đức Phật.
Đức Thế Tôn dùng từ ngữ “kẻ bần tiện” làm đề tài của pháp
thoại. Những gì Phật dạy đã chuyển hoá con người vốn nặng tà
kiến và thù hận.
Hình 83
Bài kinh sau đây ghi lại pháp thoại mà đề tài
lấy từ câu nói mạ lỵ:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvathi, tại Jetavana, khu vườn ông
Anàthapindika. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát,
đi vào Sàvatthi để khất thực. Lúc bấy giờ, tại trú xứ của
Bà-la-môn Aggikabhàradvàja, lửa tế lễ được đốt cháy, đồ cúng
dường được dâng cao. Rồi Thế Tôn, trong khi thứ lớp khất
thực ở Sàvatthi, đi đến trú xứ của Bà-la-môn Aggibhàradvàja.
Bà-la-môn Aggibhàradvàja thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy
bèn nói với Thế Tôn:
- Ở đây kẻ trọc đầu, ở đây kẻ Sa-môn ti tiện, ở đây kẻ bần
tiện, hãy đứng lại.
Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Aggibhàradvàja:
- Này Bà-la-môn, Người có biết người bần tiện hay những pháp
tạo ra kẻ bần tiện không?
- Này Tôn giả Gotama, tôi không biết kẻ bần tiện hay những
pháp tạo ra kẻ bần tiện. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama
thuyết pháp như thế nào cho tôi, để tôi được biết về kẻ bần
tiện hay các pháp tạo thành kẻ bần tiện.
- Vậy này Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
- Thưa vâng, Tôn giả!
Bà-la-môn Aggibhàradvàja vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như
sau:
116. Người phẫn nộ, hiềm hận,
Khi được nói vậy, Bà-la-môn Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay,
thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, ví như người dựng
đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, mở toang ra những gì
bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào
trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng
vậy, Pháp được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình
bày. Con nay qui y Tôn giả Gotama, qui y Pháp và qui y chúng
Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ
nay cho đến mạng chung, con trọn đời qui ngưỡng.
Trích Kinh Tập, Tiểu Bộ.
(VII) Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasalasuttam) (Sn 21). HT
Thích Minh Châu dịch Việt.
(Còn tiếp)
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |