|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 07 tháng 12, 2021 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG III. TƯƠNG ƯNG KOSALA, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,72)
@@@
Bài 5. Kinh Attarakkhita (Attarakkhitasuttaṃ) -SỐNG HIỀN THIỆN LÀ SỐNG BÌNH AN
Các vị vua chúa thường tạo cho mình sự an toàn qua các lực
lượng phòng vệ. Thật là điều thú vị khi một vị vua có binh
hùng tướng mạnh như vua Pasenadi lại có thể khởi sanh ý nghĩ
rằng một người không biết gìn giữ sở hành là người không
biết phòng vệ bản thân. Đức Phật vốn là một quân vương từ bỏ
ngai vàng sống kiếp sa môn. Có những lúc Đức Phật sống trong
rừng sâu núi thẳm một mình Ngài tự nhũ với chính mình là đời
sống cá nhân với ba nghiệp vô hại, thanh tịnh thì không có
gì phải sợ hãi. Chỉ có những bậc đại trí mới nhận ra sức
mạnh của đời sống hiền thiện.
Sāvatthinidānaṃ.
Ở tại Sāvatthī.
Ekamantaṃ nisinno kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṃ
etadavoca –
Ngồi một bên,
vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
‘‘idha mayhaṃ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso
parivitakko udapādi – ‘kesaṃ nu kho rakkhito attā, kesaṃ
arakkhito attā’ti? Tassa mayhaṃ, bhante, etadahosi –
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con đang ngồi yên tịnh một
mình, tư tưởng này khởi lên nơi con: "Ðối với những ai, tự
ngã được bảo vệ? Ðối với những ai, tự ngã không được bảo
vệ?" Và rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau:
‘ye kho keci kāyena duccaritaṃ caranti, vācāya duccaritaṃ
caranti, manasā duccaritaṃ caranti; tesaṃ arakkhito attā.
Kiñcāpi te hatthikāyo vā rakkheyya, assakāyo vā rakkheyya,
rathakāyo vā rakkheyya, pattikāyo vā rakkheyya; atha kho
tesaṃ arakkhito attā. Taṃ kissa hetu? Bāhirā hesā rakkhā,
nesā rakkhā ajjhattikā; tasmā tesaṃ arakkhito attā.
"Những ai thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, những người
ấy không bảo vệ tự ngã. Dầu cho họ được tượng binh bảo vệ,
hay được mã binh bảo vệ, hay được xa binh bảo vệ, hay được
bộ binh bảo vệ; đối với những người ấy, tự ngã không được
bảo vệ. Vì cớ sao? Vì sự bảo vệ như vậy là bảo vệ ở ngoài,
không phải sự bảo vệ bên trong. Cho nên đối với những người
ấy, tự ngã không được bảo vệ.
Ye ca kho keci kāyena sucaritaṃ caranti, vācāya sucaritaṃ
caranti, manasā sucaritaṃ caranti; tesaṃ rakkhito attā.
Kiñcāpi te neva hatthikāyo rakkheyya, na assakāyo rakkheyya,
na rathakāyo rakkheyya, na pattikāyo rakkheyya; atha kho
tesaṃ rakkhito attā. Taṃ kissa hetu? Ajjhattikā hesā rakkhā,
nesā rakkhā bāhirā; tasmā tesaṃ rakkhito attā’’’ti.
Và những ai thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện,
những người ấy bảo vệ tự ngã. Dầu cho họ không được tượng
binh bảo vệ, hay không được mã binh bảo vệ, hay không được
xa binh bảo vệ, hay không được bộ binh bảo vệ; đối với những
người ấy, tự ngã được bảo vệ. Vì cớ sao? Vì sự bảo vệ như
vậy là sự bảo vệ bên trong, không phải sự bảo vệ ở ngoài.
Cho nên đối với những người ấy, tự ngã được bảo vệ."
idamavoca ... pe ...
(từ đoạn nầy đến cuối bài kinh là lời Đức Thế Tôn xác nhận
sự đồng thuận của Ngài bằng cách lập lại những lời vua
Pasenadi. Nhưng bản dịch không ghi rõ. Bản hiệu đính dịch
lại lời của của Đức Phật cũng được xem lại dịch lại lời vua
Pasenadi)
Đúng như vậy, này Đại vương, những ai làm ác hạnh qua thân,
khẩu, ý là khiến chính mình không được bảo vệ. Ngay cả
người đó được phòng hộ bởi tượng binh, bộ binh, kỵ
binh cũng không bảo vệ chính mình. Vì sao vậy? vì đó chỉ là
bảo vệ bên ngoài chứ không bảo vệ bên trong. Nên gọi là
người không được bảo vệ.
Trái lại những người có sở hành hiền thiện qua thân, khẩu ý
là người biết bảo vệ chính mình. Ngay cả
người đó không được phòng hộ bởi tượng binh, bộ binh,
kỵ binh cũng được xem là bảo vệ chính mình. Vì sao vậy? vì
đó là bảo vệ từ bên trong hơn là chỉ
bảo vệ bên ngoài . Nên gọi là người
được bảo vệ.
‘‘Kāyena saṃvaro sādhu, sādhu vācāya saṃvaro;
Lành thay bảo vệ thân!
Bản hiệu đính
Tốt thay khéo gìn giữ
Kāyena saṃvaro sādhu = Tốt thay hộ trì thân (không làm ác)
Từ
ngữ lajjī hàm nghĩa lương tri, lương thức, lương tâm chỉ cho
thái độ sống có nguyên tắc cái gì nên hay không nên làm.
Trong kệ ngôn của Đức Phật những chữ “saṃvaro sādhu – lành
thay khéo gìn giữ” được lập lại nhiều lần như những điểm
nhấn nên trong bản hiệu đính dịch thành trọn câu lập lại
nhiều lần để chuyên chở khí chất của câu văn. @@@ Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |