|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, ngày 19, tháng 12, 2021 MÔN HỌC THẮNG PHÁP ABHIDHAMMAChương VI. TOÁT YẾU TƯƠNG TẬP (Samuccayasaṅgaha) Bài 47. TOÁT YẾU GIÁC PHẦN (Bodhipakkhiyasaṅgaha) Tứ Niệm Xứ
Phật Pháp không
phải chỉ dạy về thiện, ác mà còn nhấn mạnh con đường vượt
thoát khổ đau, thành tựu chánh trí. Mặc dù căn tánh tu tập
của chúng sanh có dị biệt nhưng không phải vì vậy mà sự tu
không có phương pháp cụ thể. Cũng như đi đường cần có bản đồ
nhưng chọn đi đường nào tuỳ thuộc vào kỷ năng của mỗi cá
nhân. Ba mươi bảy pháp trợ bồ đề được giảng trong Thắng Pháp
với “toát yếu giác phần’ Một lần nữa khi đi vào những đề tài
nầy cần lưu ý về pháp bản thể của mỗi đề tài.
Tứ niệm xứ ở đây có pháp bản thể là sở hữu niệm. Từ trạng
thái vĩ mô của tâm sở được huân tu trở thành chánh niệm của
hành giả là chìa khoá quan trọng cho sự học và thực hành
Phật pháp.
Tập
hợp những pháp có tính chất tốt đẹp, thuộc thành phần pháp
đưa đến sự giác ngộ, gọi là toát yếu giác phần. Giác phần _
bodhipakkhiya, cũng còn gọi là “bồ đề phần” hay “đảng
giác”.
Giác phần có 37 pháp, gồm 7 nhóm:
1.
Tứ niệm xứ (cattāro
satipaṭṭhānā)
gồm 4 pháp là Thân quán niệm xứ (kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ),
Thọ quán niệm xứ (vedanānupassanāsatipaṭṭhānaṃ),
Tâm quán niệm xứ (cittānupassanāsatipaṭṭhānaṃ)
và Pháp quán niệm xứ (dhammānupassanāsatipaṭṭhānaṃ).
2.
Tứ
chánh cần (cattāri
sammappadhānāni)
gồm 4 pháp là thận cần (saṃvārapadhānaṃ),
trừ cần (pahānapadhānaṃ),
tu cần (bhāvanāpadhānaṃ)
và bảo cần (anurakkhāpadhānaṃ).
3.
Tứ như ý túc (cattāro
iddhipādā)
gồm 4 pháp là dục như ý túc (chandiddhipādo),
cần như ý túc (viriyiddhipādo),
tâm như ý túc (cittiddhipādo)
và thẩm như ý túc (vīmaṃsiddhipādo).
4.
Ngũ
quyền (pañc'
indriyāni)
gồm 5 pháp là tín quyền (saddhindriyaṃ),
tấn quyền (viriyindriyaṃ),
niệm quyền (satindriyaṃ),
định quyền (samādhindriyaṃ)
và tuệ quyền (paññindriyaṃ).
5.
Ngũ
lực (pañca
balāni)
gồm bốn pháp là tín lực (saddhābalaṃ),
tấn lực (viriyabalaṃ),
niệm lực (satibalaṃ),
định lực (samādhibalaṃ)
và
tuệ lực (paññābalaṃ).
6.
Thất
giác chi (satta bojjhaṅgā)
gồm 7 pháp là niệm giác chi (satisambojjhaṅgo),
trạch pháp giác chi (satisambojjhaṅgo),
cần giác chi (viriyasambojjhaṅgo),
hỷ giác chi (pītisambojjhaṅgo),
định giác chi (samādhisambojjhaṅgo)
và
xả giác chi (upekkhāsambojjhaṅgo).
7.
Bát
chi đạo (aṭṭha
maggaṅgāni)
gồm 8 pháp là chánh kiến (sammādiṭṭhi),
chánh
tư duy (sammāsaṅkappo),
chánh ngữ (sammāvācā),
chánh nghiệp (sammākammanto),
chánh
mạng (sammā_ājīvo),
chánh tinh tấn (sammāvāyāmo),
chánh niệm (sammāsati)
và chánh định (sammāsamādhi).
Ba mươi
bảy pháp Giác phần nầy tính chi pháp thì có 15 chi là tâm
thiện, tâm sở nhất hành, tâm sở tầm, tâm sở cần, tâm sở hỷ,
tâm sở dục, tâm sở tín, tâm sở niệm, tâm sở trung hoà, tâm
sở tịnh thân, tâm sở tịnh tâm, tâm sở chánh ngữ, tâm sở
chánh nghiệp, tâm sở chánh mạng và tâm sở trí tuệ. Những chi
pháp thuộc giác phần nầy vì là yếu tố giác ngộ nên chỉ là
pháp hiệp thế.
Chia 15 chi pháp theo vai trò giác phần:
·
Tâm sở cần giữ
9
vai trò trong giác phần là 4 chánh cần, cần như ý túc, tấn
quyền, tấn lực, cần giác chi, chánh tinh tấn chi đạo.
·
Tâm sở niệm giữ 8 vai trò trong giác phần là 4 niệm xứ, niệm
quyền, niệm lực, niệm giác chi, chánh niệm chi đạo.
·
Tâm sở trí tuệ, giữ 5 vai trò trong giác phần là thẩm như ý
túc, tuệ quyền, tuệ lực, trạch pháp giác chi, chánh kiến chi
đạo
·
Tâm sở nhất hành giữ 4 vai trò trong giác phần là định
quyền, định lực, định giác chi, chánh định chi đạo.
·
Tâm sở tín giữ 2 vai trò trong giác phần là tín quyền, tín
lực.
·
Tâm đổng lực thiện giữ
1
vai trò trong giác phần là tâm như ý túc.
·
Tâm sở tầm giữ 1 vai trò trong giác phần là chánh tư duy chi
đạo.
·
Tâm sở hỷ giữ
1
vai trò trong giác phần là hỷ giác chi.
·
Tâm sở dục giữ 1 vai trò trong giác phần là dục như ý túc.
·
Tâm sở trung hoà giữ
1
vai trò trong giác phần là xả giác chi.
·
Tâm sở tịnh thân và tâm sở tịnh tâm giữ chung 1 vai trò
trong giác phần là tịnh giác chi.
·
Tâm sở chánh ngữ giữ 1 vai trò trong giác phần là chánh ngữ
chi đạo.
·
Tâm sở chánh nghiệp giữ 1 vai trò trong giác phần là chánh
nghiệp chi đạo.
·
Tâm sở chánh mạng giữ 1 vài vai trò trong giác phần là chánh
mạng chi đạo.
Giải ý nghĩa bảy nhóm giác phần:
1.
Tứ niệm xứ, danh từ satipaṭṭhāna
nghĩa là niệm có cơ sở, một chánh niệm hoàn thiện,
một cách chánh niệm để phát triển minh sát (vipassanā).
Có 4 niệm xứ:
1/ Thân quán niệm xứ (kāyānupassanāsatipaṭṭhāna),
là niệm đặt trên đối tượng sắc thân (kāya),
là
sắc uẩn; ghi nhận sự hiện hữu của sắc uẩn như hơi thở, đại
oai nghi, tiểu oai nghi, thể trược, bốn nguyên tố, tử thi.
Quán niệm thân để thấy tính chất vô thường, khổ, vô ngã, bất
tịnh của thân nầy.
2/ Thọ
quán niệm xứ (vedanānupassanāsatipaṭṭhāna),
là niệm đặt trên đối tượng cảm thọ (vedanā),
tức là thọ uẩn; ghi nhận sự sanh khởi của thọ uẩn: đây là
thọ khổ, đây là thọ lạc, đây là thọ ưu, đây là thọ hỷ, đây
là thọ xả, đây là thọ liên hệ vật chất, đây là thọ không
liên hệ vật chất. Niệm cảm thọ để thấy tính chất vô thường,
khổ, vô ngã của thọ uẩn.
3/ Tâm
quán niệm xứ (cittānupassanāsatipaṭṭhāna),
là niệm đặt trên đối tượng tâm sanh (cittuppāda);
ghi
nhận sự sanh khởi của thức uẩn, như tâm có tham biết đây là
tâm có tham, tâm không tham biết đây là tâm không tham, tâm
có sân biết đây là tâm có sân …v.v… Quán niệm tâm để
thấy rõ tính chất vô thường, khổ, vô ngã của thức uẩn
(bao gồm cả bốn danh uẩn vì là tâm sanh).
4/ Pháp
quán niệm xứ (dhammānupassanāsatipaṭṭhāna),
là niệm đặt trên đối tượng pháp thực tính (dhamma);
Pháp trong pháp quán thường được cho là tưởng uẩn (saññā)
và
hành uẩn (saṅkhāra),
là
hai uẩn còn lại, vì thân quán là sắc uẩn, thọ quán là thọ
uẩn, tâm quán là thức uẩn, tổng cộng là năm uẩn quá rõ ! Tuy
nhiên nếu xét theo kinh niệm xứ thì pháp quán niệm xứ còn
nhiều hơn tưởng uẩn và hành uẩn. Trong kinh niệm xứ, pháp
quán được đức Phật dạy là quán niệm năm triền cái, năm thủ
uẩn, mười hai xứ, bảy giác chi, bốn thánh đế; Như vậy sự
quán niệm danh sắc hay bất kỳ pháp thực tính nào thuộc năm
đề tài trên đều gọi là pháp quán niệm xứ. Quán niệm Pháp để
thấy rõ tam tướng, không phải chỉ tỏ ngộ tính vô ngã như
thường được nói bởi vài vị tiền bối.
Lại nữa, các Ngài nói sở dĩ có bốn (4) niệm xứ vì để từ bỏ
bốn kiến điên đảo (vipallāsadiṭṭhi)
là
chấp thường, lạc, ngã, tịnh … Điều nầy cần phải xét lại !!!
Chi pháp của bốn niệm xứ là tâm sở niệm trong tâm đại thiện
khi tu tập thiền quán.
Bài học tiếp theo:
Bài 47.
TOÁT YẾU GIÁC PHẦN (Bodhipakkhiyasaṅgaha)
“tiếp
theo”
Biên soạn giáo trình: Tỳ
kheo Giác Đẳng I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |