|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 20 tháng 12, 2021
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN Bài 18. CON NHÀ TÔNG … Phần I
Đức Thế Tôn
ra đời mang ánh sáng giác ngộ giải thoát đến muôn loài chúng
sanh. Những đệ tử đã lãnh hội và thành tựu được sự chuyển
hoá kỳ diệu có thể nói là vô số. Trong những vị nầy đã có
nhiều thể hiện cho thấy sự trưởng thành thật sự trong giáo
pháp và góp phần hoằng hoá lợi sanh. Mặc dù khả năng hữu hạn
so với bậc Đạo Sư nhưng con nhà tông không giống lông cũng
giống cánh. Những giai thoại về có đệ tử Phật cho thấy sự vô
uý khi tuyên thuyết chánh pháp; hiệu năng khai thị dù người
thuyết giáo xuất thân tầm thường. Tất cả đã ghi lại một thời
hoàng kim của chánh pháp khi giá trị của chân lý vượt qua
tất cả hạn cuộc của giai cấp, giới tính, giàu nghèo. Hiểu
biết về các đệ tử cũng là sự cảm nhận tánh cách cao cả về sự
ra đời của một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Trung ngôn mà không nghịch nhĩ
Những
lời nói đẹp không nhất thiết thuận tai.
Đối với một xã hội có quá nhiều tập
quán tín ngưỡng lâu đời thì đa số những hành trì thuộc giới cấm thủ hay là những
hũ tục duy trì bởi niềm tin mù quáng. Mặc dù vậy vì được phần đông trong xã hội
chấp nhận và trân trọng nên người ta vẫn thường tin vào những gì xưa bày nay làm là chân lý.
Những lời nói thẳng về sự vô bổ của các lề thói tín ngưỡng dân gian thường tạo nên va chạm lớn trong xã hội.
Punnikā là một thiếu nữ thuộc giai cấp cùng đinh lại dám nói
với một vị bà la môn về nghi thức tác tịnh bằng cách tắm
sông thiêng.
Sự thấp kém về giai cấp, giới tính cộng thêm sự va chạm nặng
với một tín lý tôn giáo cố hữu quả thật không dễ dàng đề một
thiếu nữ tầm thường phê phán. Nhưng là đệ tử Phật lại là một
bậc thánh sơ quả, Punnikā đã khẳng khái nói lên sự thật. Lời
nói thật ấy lại có một hiệu năng chuyển hoá nhiệm mầu.
Hình 75
Bài kinh sau đây thuật lại câu chuyện thiếu nữ xuất thân
cùng đinh đã cảm hoá vị bà la môn đang thực hành tín lý tác
tịnh bằng nước sông:
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi,
trong gia đình ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc) con gái của
một người nô lệ. Nàng chứng được quả Dự lưu khi nghe kinh Sư
tử hống (Trung Bộ Kinh, kinh số 11 hay 12). Về sau, sau khi
nàng hóa độ được một Bà-la-môn tin tưởng nhờ nước làm cho
thanh tịnh:
237. Hỡi này Bà-la-môn,
238. Và nàng có biết chăng
239. Vị ấy già hay trẻ,
240. Ai nói với ngươi vậy,
241. Tất cả những ếch, rùa,
242. Kẻ giết bò giết heo,
243. Nếu những con sông này,
244. Phạm chí vì cái gì,
245. Ta đi theo tà đạo,
246. Ngươi giữ cái áo lại,
247. Chớ làm các điều ác,
248. Ngươi không thoát đau khổ,
249. Hãy đến quy y Phật,
250. Ta đến quy y Phật,
251. Trước ta là bà con,
Vị Bà-la-môn quy y và thọ năm giới. Về sau được nghe bậc Ðạo
Sư thuyết pháp trở thành một thiện nam và xuất gia. Nhờ tinh
cần tu tập không bao lâu chứng được Ba minh, và nghĩ đến quả
chứng của mình, nói lên bài kệ này.
Và được sự cho phép của ông chủ, nàng được thoát ly khỏi
giới nô lệ và xuất gia. Về sau nhờ triển khai thiền quán,
nàng chứng quả A-la-hán.
Trích Trưởng
Lão Ni Kệ (LXV) Punnikà (Therì. 146)
. Bản dịch của HT Thích Minh Châu.
Biết rằng ai độ ai đây?
Khi chánh pháp lan toả trong trần gian có những hình ảnh rất
lạ.
Người thế gian thường nhận định mọi việc theo giá trị rất đời.
Phải thấy được diệu năng của chánh pháp mới có thể nhận ra
những cái đẹp vượt ngoài cái nhìn thường tình. Ngay cả mãi
đến ngày nay, tại những vùng đất có hạt bồ đề gieo trồng thì
không hẳn mọi việc đều được đón nhận dựa trên giá trị của
đạo chân thực.
Dhammadinnā là một phu nhân trong gia đình quý tộc đến với
Phật Pháp do người chồng sau nầy lại là người giảng dạy đạo
lý cho người đã tạo duyên tu tập ban đầu.
Từ vị thế một người vợ khi thấy chồng không còn mặn nồng vì
đã chứng thánh quả, Dhammadinnā không cho con đường bước
sang thuyền khác mà xuất gia trở thành một tỳ kheo ni lỗi
lạc. Sau nầy chính Visākha nguyên là người chồng, người thầy
đã đến để hỏi đạo cao siêu. Những lời thâm sâu của vị thánh
ni sau đó đã được Đức Thế Tôn chuẩn thuận.
Hình 76
Câu chuyện sau đây ghi lại một hình ảnh rất ngược đời nhưng
đẹp đạo:
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia
đình ở Ràjagaha (Vương Xá) và trở thành vợ của Visàkha, một
người có địa vị trong xã hội. Một ngày kia, chồng nàng đi
nghe đức Phật thuyết pháp, chứng được quả Bất lai. Khi
Visàkha về, Dhammadinnà đưa tay ra đỡ chồng lên gác, nhưng
người chồng không nắm tay và không nói với nàng trong bữa ăn
chiều. Nàng hỏi chồng duyên cớ, người chồng nói không phải
vì lỗi gì của nàng, nhưng nay vì đã hiểu được Chánh pháp nên
không còn những cử chỉ như trước nữa. Người chồng trả quyền
tự do cho nàng, một là ở lại gia đình người chồng, hai là
lấy tiền bạc rồi về lại gia đình cha mẹ, nhưng nàng không
chịu, và xin được xuất gia. Visàkha đưa nàng đến các
Tỷ-kheo-ni trong một chiếc kiệu vàng. Ðược cho phép xuất
gia, nàng xin sống nhập thất, không muốn sống chung đụng ồn
ào và đi đến một tinh xá ở làng. Tại đấy, nhờ những thiện
nghiệp quá khứ, nàng chế ngự thân, miệng, ý, chứng được quả
A-la-hán, với Tứ vô ngại giải: Nghĩa vô ngại giải, pháp vô
ngại giải, từ vô ngại giải, biện tài vô ngại giải. Rồi nàng
đi về Ràjagaha (Vương Xá), với các Tỷ-kheo-ni. Visàkha chồng
cũ của nàng đến hỏi pháp, nàng như đã được diễn tả trong
kinh Tiểu Vedalla (M.i. 299), nàng trả lời rất rõ ràng đúng
đắn các câu hỏi của Visàkha và được đức Phật tán thán. Nàng
trở thành thuyết pháp đệ nhất trong hàng các Tỷ-kheo-ni.
Chính trong khi nàng ở lại một tinh xá ở làng và nàng nói
lên bài kệ này:
12. Trong ai, lòng ước muốn,
Trích Trưởng Lão Ni Kệ (XII) Dhammadinnà (Therì. 124). Bản
dịch của HT Thích Minh Châu.
Những điều khiến thay đổi không ngờ
Đi vào
cảnh giới của đạo là phải nói đến tâm thuật. Một nữ tỳ của hoàng hậu thường ăn bớt tiền mua hoa hằng
ngày tự nhiên một bữa kia thay đổi bất ngờ. Nguyên nhân vì
được nghe Phật pháp và chứng sơ đạo. Vị hoàng hậu không
những cảm kích hiệu năng của chánh pháp mà còn làm một pháp
toà để mời người nữ tỳ đăng đàn trùng tuyên những gì đã được
Phật dạy.
Tỳ nữ
Khujjhuttarā vốn ngoại hình xấu và tâm cũng xấu nhưng do
lãnh hội Phật pháp đã chuyển hoá chính mình và tất cả người
chung quanh mình. Mặc dù đa số khi nói về sự mầu nhiệm của tôn giáo thường
nói về phép lạ hơn là sự chuyển hoá bằng giáo dục. Đức Phật
đã cho cuộc đời cái nhìn khác hơn. Chính sự giáo dục chân
chánh khiến tâm thức hướng thượng, hướng thiện đó mà một thứ
“thần lực nhiệm mầu”.
Hình 55
Dưới đây là trích một đoạn trong tựa của bản dịch kinh Phật
Thuyết Như Vậy (Itivuttaka) tuy cô đọng nhưng nói về một con
người đáng nhớ:
Tập kinh Phật Thuyết Như Vậy
(Itivuttaka), thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khudaka Nikaya), là
một tập hợp 112 bài kinh ngắn, có tựa đề bắt nguồn từ câu
"Ðức Thế Tôn thuyết giảng như vầy" (Itivuttam). Tập kinh
chia thành bốn chương: chương một pháp, chương hai pháp,
chương ba pháp, và chương bốn pháp.
Tập kinh nầy do một vị nữ cư sĩ tên là Khujjuttara kết hợp
sau khi thuật lại các lời giảng của Ðức Phật, cho Hoàng hậu
Samavati và các cung nữ khác của Vua Udena, xứ Kosambi.
Hoàng hậu không thể rời hoàng cung để đến nơi Phật ngụ nghe
Phật thuyết giảng, cho nên Hoàng hậu sai bà Khujjuttara đi
nghe thuyết giảng, ghi nhớ, rồi trở về hoàng cung để thuật
lại cho bà và 500 vị cung phi khác nghe. Bà Khujjuttara có
trí nhớ lạ thường và rất thông minh, khéo giảng pháp, nên
Ðức Phật đã từng khen ngợi rằng bà là vị Ðệ Nhất Thanh Văn
trong hàng nữ đệ tử cư sĩ (Tăng Chi Bộ I.14). Bà cũng là một
vị thầy tài giỏi để hướng dẫn hoàng hậu và các cung phi khác
trong việc hành trì Chánh Pháp.
HT Thích
Minh Châu.
Hình 83
(Còn tiếp)
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |