|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 21 tháng 12, 2021 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG III. TƯƠNG ƯNG KOSALA, PHẨM THỨ HAI (S.i,77)
@@@
Bài 1. Kinh Bảy Đạo Sĩ Bện Tóc(Sattajaṭilasuttaṃ) -TRI NHÂN TRI DIỆN BẤT TRI TÂM
Đường dài mới
biết sức ngựa, sống lâu mới biết rõ người. Đó là ngạn ngữ
của cổ đức mang ý nghĩ gần giống với nội dung bài kinh hôm
nay. Đức Phật còn dạy thêm một điểm: người sống trong tục
luỵ khó phân được ai thật sự là bậc thanh tịnh chí thiện.
Phải chung sống lâu mới rõ đức hạnh của một người; phải qua
lại nhiều mới biết được một người thành thật ra sao; phải
trãi qua hoạn nạn mới biết sự kiên tâm bền chí của ai đó; và
phải thường đàm luận mới biết tri thức rộng hẹp của một
người. Chúng sanh phần đông đa sự nhưng nông cạn. Bậc trí
giản dị mà thâm sâu. Chỉ với ấn tượng ban đầu khó phân thật giả, tốt xấu, trí ngu
Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati pubbārāme
migāramātupāsāde.
Một thuở Đức Thế Tôn trú tại
Sāvatthī, Pubbārāma (Ðông Viên Tự), tại pháp lâu Migāramātu
(Lộc Mẫu giảng
đường).
Tena kho pana samayena bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallānā
vuṭṭhito bahidvārakoṭṭhake nisinno hoti.
Bấy giờ vào buổi chiều, Đức
Thế Tôn từ chỗ thiền tịnh độc cư đứng dậy đến ngồi tại mái
hiên phía ngoài.
Atha kho rājā pasenadi kosalo yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.
Rồi vua Pasenadi vương quốc
Kosala đi đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Tena kho pana samayena satta ca jaṭilā satta ca nigaṇṭhā
satta ca acelakā satta ca ekasāṭakā satta ca paribbājakā
parūḷhakacchanakhalomā khārivividhamādāya [khārividhaṃ ādāya
(pī.) dī. ni. 1.280 tadaṭṭhakathāpi oloketabbā] bhagavato
avidūre atikkamanti.
Bấy giờ có bảy vị bện tóc,
bảy vị Ni kiền tử, bảy vị lõa thể, bảy vị bảy vị nhất y khất
sĩ và bảy vị du sĩ với thân đầy lông, với móng tay dài, lớn
như cây lau, mang các pháp khí đang đi ngang qua cách Đức
Thế Tôn không xa.
Atha kho rājā pasenadi kosalo uṭṭhāyāsanā ekaṃsaṃ
uttarāsaṅgaṃ karitvā dakkhiṇajāṇumaṇḍalaṃ pathaviyaṃ
nihantvā yena te satta ca jaṭilā satta ca nigaṇṭhā satta ca
acelakā satta ca ekasāṭakā satta ca paribbājakā tenañjaliṃ
paṇāmetvā tikkhattuṃ nāmaṃ sāvesi – ‘‘rājāhaṃ, bhante,
pasenadi kosalo...pe... rājāhaṃ, bhante, pasenadi
kosalo’’ti.
Rồi vua Pasenadi nước
Kosala, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào phía một bên vai,
quỳ xuống trên đầu gối tay mặt, chấp tay hướng về bảy vị bện
tóc, bảy vị Ni Kiền Tử, bảy vị lõa thể, bảy vị bảy vị nhất y
khất sĩ và bảy vị du sĩ ấy và nói lên ba lần tên của mình:
"Thưa chư Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala".
Atha kho rājā pasenadi kosalo acirapakkantesu tesu sattasu
ca jaṭilesu sattasu ca nigaṇṭhesu sattasu ca acelakesu
sattasu ca ekasāṭakesu sattasu ca paribbājakesu yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi.
Sau khi bảy vị bện tóc, bảy
vị Nigantha, bảy vị lõa thể, bảy vị
nhất y khất sĩ và bảy vị du sĩ ấy
đi qua không lâu vua Pasenadi nước Kosala trở lại
trước Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên.
Ekamantaṃ nisinno kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṃ etadavoca
–
Ngồi xuống một bên, vua
Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
‘‘ye te, bhante, loke arahanto vā arahattamaggaṃ vā
samāpannā ete tesaṃ aññatarā’’ti.
--
Bạch Thế Tôn, có phải những
tu sĩ ấy là những vị A-la-hán trên đời này, hay là những vị
đang đi trên con đường hướng đến quả vị A-la-hán?
‘‘Dujjānaṃ kho etaṃ, mahārāja, tayā gihinā kāmabhoginā
puttasambādhasayanaṃ ajjhāvasantena kāsikacandanaṃ
paccanubhontena mālāgandhavilepanaṃ dhārayantena
jātarūparajataṃ sādiyantena – ‘ime vā arahanto, ime vā
arahattamaggaṃ samāpannā’’’ti.
-- Này Ðại vương, Ðại vương
là cư sĩ sống thọ hưởng
dục lạc, sống vây quanh với
con cái, quen dùng các loại chiên đàn ở xứ Kàsi,
trang sức với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, sử dụng vàng và
bạc, thời thật khó Ðại vương biết được ai là là bậc A-la-hán
hay ai là bậc đang đi con đường đến quả vị A-la-hán.
‘‘Saṃvāsena kho, mahārāja, sīlaṃ veditabbaṃ. Tañca kho
dīghena addhunā, na ittaraṃ; manasikarotā, no amanasikarotā;
paññavatā, no duppaññena.
Này Ðại vương, phải chung sống lâu mới biết được giới đức
của một người. Không phải trong thời gian ngắn mà phải chung
đụng dài hạn đế biết rõ ai là người tỉnh giác hay thất niệm;
ai là người có chánh trí, ai là người có ác tuệ.
Saṃvohārena kho, mahārāja, soceyyaṃ veditabbaṃ. Tañca kho
dīghena addhunā, na ittaraṃ; manasikarotā, no amanasikarotā;
paññavatā, no duppaññena.
Này Ðại vương, phải tương
tác lâu mới biết được sự chân thật của một người. Không phải
trong thời gian ngắn mà phải chung đụng dài hạn đế biết rõ
ai là người tỉnh giác hay thất niệm; ai là người có chánh
trí, ai là người có ác tuệ.
Āpadāsu kho, mahārāja, thāmo veditabbo. So ca kho dīghena
addhunā, na ittaraṃ; manasikarotā, no amanasikarotā;
paññavatā, no duppaññena.
Này Ðại vương, phải trãi qua
thời gian dài trong hoạn nạn mới biết được sự kiên tâm của
một người. Không phải trong thời gian ngắn mà phải chung
đụng dài hạn đế biết rõ ai là người tỉnh giác hay thất niệm;
ai là người có chánh trí, ai là người có ác tuệ.
Sākacchāya, kho, mahārāja, paññā veditabbā. Sā ca kho
dīghena addhunā, na ittaraṃ; manasikarotā, no amanasikarotā;
paññavatā, no duppaññenā’’ti.
Này Ðại vương, phải trãi qua
thời gian dài đàm luận mới biết được tri thức của một người.
Không phải trong thời gian ngắn mà phải chung đụng dài hạn
đế biết rõ ai là người tỉnh giác hay thất niệm; ai là người
có chánh trí, ai là người có ác tuệ.
‘‘Acchariyaṃ, bhante, abbhutaṃ bhante! Yāva subhāsitamidaṃ,
bhante, bhagavatā – ‘dujjānaṃ kho etaṃ, mahārāja, tayā
gihinā kāmabhoginā puttasambādhasayanaṃ ajjhāvasantena
kāsikacandanaṃ paccanubhontena mālāgandhavilepanaṃ
dhārayantena jātarūparajataṃ sādiyantena – ime vā arahanto,
ime vā arahattamaggaṃ samāpannā’ti. Saṃvāsena kho, mahārāja,
sīlaṃ veditabbaṃ. Tañca kho dīghena addhunā, na ittaraṃ;
manasikarotā, no amanasikarotā; paññavatā, no duppaññena.
Saṃvohārena kho mahārāja, soceyyaṃ veditabbaṃ. Tañca kho
dīghena addhunā, na ittaraṃ; manasikarotā, no amanasikarotā;
paññavatā, no duppaññena. Sākacchāya kho, mahārāja, paññā
veditabbā. Sā ca kho dīghena addhunā, na ittaraṃ;
manasikarotā, no amanasikarotā; paññavatā, no
duppaññenā’’ti.
-- Thật vi diệu thay, bạch
Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn đã khéo
nói như sau: " Thưa Ðại vương, khi Ðại vương còn là cư sĩ...
... không phải không với ác tuệ"!
‘‘Ete, bhante, mama purisā carā ocarakā janapadaṃ ocaritvā
āgacchanti. Tehi paṭhamaṃ ociṇṇaṃ ahaṃ pacchā osāpayissāmi
[oyāyissāmi (sī.), ohayissāmi (syā. kaṃ.)].
Bạch Đức Thế Tôn thật ra
trong những vị đạo sĩ có những gián điệp do con gởi đi thám
sát nước láng giềng. Sau khi thu thập tin tức họ về trình
báo với con.
Idāni te, bhante, taṃ rajojallaṃ pavāhetvā sunhātā suvilittā
kappitakesamassū odātavatthā [odātavatthavasanā (sī.)]
pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā
paricāressantī’’ti.
Bạch Thế Tôn, sau khi những
người nầy hoàn tất nhiệm vụ sẽ tắm rữa, tẩy sạch bợn nhơ,
xức dầu thơm, cắt tỉa râu tóc, mặc y phục trắng đẹp, được
hầu hạ và hưởng thụ năm dục lạc.
Atha kho bhagavā etamatthaṃ viditvā tāyaṃ velāyaṃ imā
gāthāyo abhāsi –
Từ ý nghĩa này, ngay trong
lúc ấy Đức Thế Tôn nói lên kệ ngôn:
‘‘Na vaṇṇarūpena naro sujāno,
Khó biết do bề ngoài,
Na vaṇṇarūpena naro sujāno = không dễ để biết một người chỉ với ngoại hình
Vì trong những đạo sĩ đó có gián điệp vua Pasenadi cử đi thám
thính lân bang. Nhà vua khi gặp nhóm đạo sĩ nầy biết rõ
những ai đóng vai giả tu nhưng vì bảo vệ thân phận của họ đã
tỏ ra cung kính. Nhà vua cũng nhân dịp nầy hỏi Đức Phật làm
sao để biết ai thật sự là bậc chân tu thanh tịnh. Câu trả
lời của Đức Thế Tôn khiến nhà vua thập phần
hoan hỷ. @@@ Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |