|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 22 tháng 12, 2021 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG III. TƯƠNG ƯNG KOSALA, PHẨM THỨ HAI (S.i,79)
@@@
Bài 2. Kinh Năm Vị Vua (Pañcarājasuttaṃ) -TRÊN CẢ TUYỆT VỜI
Ý niệm về sự tuyệt đỉnh của cuộc sống khiến người ta cả
quyết cái gì là giá trị tuyệt đối. Đức Phật dạy tất cả sự
đánh giá như vậy đều tương đối tuỳ theo sở thích cá nhân.
Nói cách khác, theo Phật Pháp thì những gì khả ái, khả lạc
không phải tuỳ nỏ ngoại xứ mà còn do nội xứ. Người ta nói
nói “sướng như vua” vì có thể tận hưởng những dục lạc tốt
nhất có thể. Thế nhưng khi năm vị vua cùng đưa ra quan điểm
cái gì là tuyệt hảo thì lại có năm ý kiến khác biệt nhau.
Đức Phật dạy là trên thực tế cái gọi là tối thượng chỉ là
quan niệm dựa trên thị hiếu riêng mỗi người.
Một cư sĩ tình cờ có mặt trong hội chúng khi nghe câu chuyện
lại có một cái nhìn khác: hình ảnh của Đức Phật là tối tôn ở
đời nhưng vầng thái dương trên bầu trời. Cảm nhận không liên
hệ gì đến đề tài của năm vị vua nhưng khiến tất cả đồng
thuận. Trong thế giới thi thiết tất cả chỉ là đối đãi.
Sāvatthinidānaṃ.
Tại Sāvatthī.
Tena kho pana samayena pañcannaṃ rājūnaṃ pasenadipamukhānaṃ
pañcahi kāmaguṇehi samappitānaṃ samaṅgībhūtānaṃ
paricārayamānānaṃ ayamantarākathā udapādi – ‘‘kiṃ nu kho
kāmānaṃ agga’’nti?
Thuở ấy (có sự tụ họp) năm vị vua đứng đầu là vua Pasenadi
nước Kosala. Họ được cung ứng và hưởng thụ sung mãn năm dục
lạc. Rồi một cuộc đàm luận khởi lên giữa những vị vua về
“dục lạc nào là tối thượng”.
Tatrekacce [tatreke (sī. pī.)] evamāhaṃsu – ‘‘rūpā kāmānaṃ
agga’’nti. Ekacce evamāhaṃsu – ‘‘saddā kāmānaṃ agga’’nti.
Ekacce evamāhaṃsu – ‘‘gandhā kāmānaṃ agga’’nti. Ekacce
evamāhaṃsu – ‘‘rasā kāmānaṃ agga’’nti. Ekacce evamāhaṃsu –
‘‘phoṭṭhabbā kāmānaṃ agga’’nti. Yato kho te rājāno
nāsakkhiṃsu aññamaññaṃ saññāpetuṃ.
Một vị vua nói rằng “sắc đẹp là khoái lạc tối thượng”. Vị
khác nói: “âm thanh là khoái lạc tuyệt hảo”. Vị khác nữa:
“mùi hương là khoái lạc đệ nhất”. Cũng có vị nói: “vị ngon
là khoái lạc cực phẩm” . Và một vị nói “xúc lạc là khoái lạc
không gì bằng”. Các vị ấy không ai thuyết phục được nhau về
quan điểm của mình.
Atha kho rājā pasenadi kosalo te rājāno etadavoca –
Rồi vua Pasenadi nước Kosala bảo các vua ấy:
‘‘āyāma, mārisā, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ etamatthaṃ paṭipucchissāma. Yathā
no bhagavā byākarissati tathā naṃ dhāressāmā’’ti
[dhāreyyāmāti (sī. syā. kaṃ. pī.)].
-- Chư liệt vị, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn hỏi ý nghĩa này.
Thế Tôn trả lời thế nào, chúng ta thọ trì như vậy.
‘‘Evaṃ, mārisā’’ti kho te rājāno rañño pasenadissa kosalassa
paccassosuṃ.
-- Thưa Ngài vâng ạ. Các vua ấy đồng thuận với vua Pasenadi
nước Kosala.
Atha kho te pañca rājāno pasenadipamukhā yena bhagavā
tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdiṃsu.
Rồi năm vua ấy, với vua Pasenadi nước Kosala là thượng thủ,
đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống
một bên.
Ekamantaṃ nisinno kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṃ etadavoca
–
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
‘‘idha, bhante, amhākaṃ pañcannaṃ rājūnaṃ pañcahi kāmaguṇehi
samappitānaṃ samaṅgībhūtānaṃ paricārayamānānaṃ
ayamantarākathā udapādi – ‘kiṃ nu kho kāmānaṃ agga’nti?
Ekacce evamāhaṃsu – ‘rūpā kāmānaṃ agga’nti. Ekacce
evamāhaṃsu – ‘saddā kāmānaṃ agga’nti. Ekacce evamāhaṃsu –
‘gandhā kāmānaṃ agga’nti. Ekacce evamāhaṃsu – ‘rasā kāmānaṃ
agga’nti. Ekacce evamāhaṃsu – ‘phoṭṭhabbā kāmānaṃ agga’nti.
Kiṃ nu kho, bhante, kāmānaṃ agga’’nti?
-- Bạch Thế Tôn, năm vua chúng con tụ họp được cung ứng và
hưởng thụ sung mãn năm dục lạc, câu chuyện sau đây được khởi
lên giữa chúng con: "Dục nào là tối thượng?". Một người
trong chúng con nói rằng “sắc đẹp là khoái lạc tối thượng”.
Vị khác nói: “âm thanh là khoái lạc tuyệt hảo”. Vị khác nữa:
“mùi hương là khoái lạc đệ nhất”. Cũng có vị nói: “vị ngon
là khoái lạc cực phẩm “. Và một vị nói “xúc lạc là khoáI lạc
không gì bằng”. Các vị ấy không ai thuyết phục được nhau về
quan điểm của mình. Bạch Thế Tôn, dục nào là tối thượng?
‘‘Manāpapariyantaṃ khvāhaṃ, mahārāja, pañcasu kāmaguṇesu
agganti vadāmi. Teva [te ca (sī. pī. ka.), ye ca (syā.
kaṃ.)], mahārāja, rūpā ekaccassa manāpā honti, teva [te ca
(sī. pī. ka.)] rūpā ekaccassa amanāpā honti. Yehi ca yo
rūpehi attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo, so tehi rūpehi aññaṃ
rūpaṃ uttaritaraṃ vā paṇītataraṃ vā na pattheti. Te tassa
rūpā paramā honti. Te tassa rūpā anuttarā honti.
‘‘Teva, mahārāja, saddā ekaccassa manāpā honti, teva saddā
ekaccassa amanāpā honti. Yehi ca yo saddehi attamano hoti
paripuṇṇasaṅkappo, so tehi saddehi aññaṃ saddaṃ uttaritaraṃ
vā paṇītataraṃ vā na pattheti. Te tassa saddā paramā honti.
Te tassa saddā anuttarā honti.
‘‘Teva, mahārāja, gandhā ekaccassa manāpā honti, teva gandhā
ekaccassa amanāpā honti. Yehi ca yo gandhehi attamano hoti
paripuṇṇasaṅkappo, so tehi gandhehi aññaṃ gandhaṃ
uttaritaraṃ vā paṇītataraṃ vā na pattheti. Te tassa gandhā
paramā honti. Te tassa gandhā anuttarā honti.
‘‘Teva, mahārāja, rasā ekaccassa manāpā honti, teva rasā
ekaccassa amanāpā honti. Yehi ca yo rasehi attamano hoti
paripuṇṇasaṅkappo, so tehi rasehi aññaṃ rasaṃ uttaritaraṃ vā
paṇītataraṃ vā na pattheti. Te tassa rasā paramā honti. Te
tassa rasā anuttarā honti.
‘‘Teva, mahārāja, phoṭṭhabbā ekaccassa manāpā honti, teva
phoṭṭhabbā ekaccassa amanāpā honti. Yehi ca yo phoṭṭhabbehi
attamano hoti paripuṇṇasaṅkappo, so tehi phoṭṭhabbehi aññaṃ
phoṭṭhabbaṃ uttaritaraṃ vā paṇītataraṃ vā na pattheti. Te
tassa phoṭṭhabbā paramā honti. Te tassa phoṭṭhabbā anuttarā
hontī’’ti.
-- Này Ðại vương, tùy vào thị hiếu cá nhân mà một thứ dục
lạc được xem là tối thượng.
Cũng là một hình sắc được nhưng
được đặc biệt ưa thích bởi người nầy nhưng không được ưa
chuộng bởi người khác.
Nếu một người ưa thích thứ hình sắc nào đó với sự thoả mãn
và không mong cầu thứ sắc khác hơn thì sắc ấy được xem là
tối thượng với người đó; đối với người đó sắc là không gì
bằng.
Cũng là một âm thanh..
Cũng là một mùi hương ..
Cũng là một khẩu vị..
Cũng là một xúc chạm được nhưng được đặc biệt ưa thích bởi
người nầy nhưng không được ưa chuộng bởi người khác. . Nếu
một người ưa thích thứ xúc chạm nào đó với sự thoả mãn và
không mong cầu thứ xúc chạm khác hơn thì xúc chạm ấy được
xem là tối thượng với người đó; đối với người đó cảnh xúc là
không gì bằng.
Tena kho pana samayena candanaṅgaliko upāsako tassaṃ
parisāyaṃ nisinno hoti. Atha kho candanaṅgaliko upāsako
uṭṭhāyāsanā ekaṃsaṃ uttarāsaṅgaṃ karitvā yena bhagavā
tenañjaliṃ paṇāmetvā bhagavantaṃ etadavoca –
Lúc bấy giờ có nam cư sĩ Candanangalika hiện diện trong hội
chúng ấy. Rồi cư sĩ Candanangalika từ chỗ ngồi đứng dậy đắp
thượng y lên một bên vai, chấp tay hướng về Thế Tôn và bạch
rằng:
‘‘paṭibhāti maṃ bhagavā, paṭibhāti maṃ sugatā’’ti.
-- Bạch Thế Tôn, một ý tưởng cảm hứng khởi lên nơi con. Bạch
Thiện Thệmột ý tưởng cảm hứng khởi lên nơi con.
‘‘Paṭibhātu taṃ candanaṅgalikā’’ti bhagavā avoca.
Đức Thế Tôn dạy:
-- Này Candanangalika, hãy nói lên một ý tưởng
cảm hứng ấy.
Atha kho candanaṅgaliko upāsako bhagavato sammukhā
tadanurūpāya gāthāya abhitthavi –
Rồi cư sĩ Candanangalika nói lên kệ ngôn xưng tán thích hợp
trước Đức Thế Tôn:
‘‘Padumaṃ yathā kokanadaṃ sugandhaṃ,
Như sen hồng ngát hương
Atha kho te pañca rājāno candanaṅgalikaṃ upāsakaṃ pañcahi
uttarāsaṅgehi acchādesuṃ.
Rồi năm vị vua tặng cư sĩ Candanangalika năm áo choàng.
Atha kho candanaṅgaliko upāsako tehi pañcahi uttarāsaṅgehi
bhagavantaṃ acchādesīti.
Nhưng cư sĩ Candanangalika đem cả năm áo choàng cúng dường
Đức Thế Tôn.
Manāpapariyantaṃ khvāhaṃ mahārāja pañcasu kāmaguṇesu
aggan ti vadāmi = là câu Phật ngôn được Sớ giải chú thích
là mang ý nghĩa theo thành ngữ “manāpanipphattiṃ
manāpakotiḳaṃ” cái gì tâm ưa chuộng nhất thì cái đó tối
thượng hay “tuỳ theo thị hiếu cá nhân”
‘‘Padumaṃ yathā kokanadaṃ sugandhaṃ = Như sen hồng kokanada ngát hương
Chữ
ekacce có nghĩa là vài vị, hay một vài vị nhưng theo một số
dịch giả, kể cả Ngài Bodhi, thì nên hiểu là một vị vì ở đây
có 5 vị vua với năm ý kiến khác biệt. Đại
từ Aṅgīrasa có thể hiểu theo hai ý nghĩa. Thứ nhất Đức Phật
là Đấng Aṅgīrasa vì hào quang toả sáng (Đấng Minh Quang);
thứ hai, Đức Phật là Đấng Aṅgīrasa vì Ngài mang họ Gotama
(giòng tộc được gọi là Aṅgīrasa) @@@ Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |