|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, 24 tháng 12, 2021
MÔN HỌC PHẠN NGỮ PÀLÌ
Văn phạm:
1. Biến cách danh từ nữ tánh tận cùng bằng
Dhenu – con bò, thú vật giống
cái nói chung
Biến cách > Số ít / Số nhiều
Chủ cách > dhenu / dhenū, dhenuyo
2. Những danh từ sau đây biến cách giống như trên: yāgu – cháo loãng (…) kāsu – cái hố vijju – ánh chớp, tia chớp rajju – dây daddu – bệnh chàm. Bệnh ec zê ma, bệnh bội nhiễm kaṇeru – voi cái, bò cái dhātu – nguyên tố, di cốt sassu – mẹ chồng hay mẹ vợ vadhu – con dâu
3. Vocabulary – Verbs thaketi – khép lại, đóng lại nāseti – tàn phá, tiêu huỷ sammajjati – quét obhāseti – toả sáng, chói sáng bhajati – đồng hành, cùng đi bandhati – cột, buộc vibhajati – chia ra, phân phối bhañjati – làm gãy, lèm bể māpeti – tạo nên, xây dựng vihiṃsati – làm hại, gây tổn thương chaḍḍeti – ném, vứt, quăng pattharati – trải ra
PĀLI
VUI ĐỂ HỌC
Nguyên Bản hay Phiên Bản
Một trong những đặc sắc của kinh điển hệ Pāli là bảo lưu
kho tàng giáo pháp được tồn tại theo thời gian. Tuy vậy
không phải không có ngoại lệ. Bài nầy đề cập hai trường
hợp nguyên bản Pāli bị thất truyền nên sau nầy phải lấy
bản dịch chuyển ngữ trở lại.
Trường hợp đầu tiên là tác phẩm Vimuttimagga (Giải Thoát
Đạo) là cẩm nang tu tập chỉ quán do thánh tăng Upatissa
biên soạn vào thế kỷ thứ nhất. Tức là khoảng hơn 400 năm
trước khi bộ Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo) ra đời. Cả
hai tác phẩm đều có những hướng dẫn cụ thể về pháp hành
nhưng bộ Vimuttimagga lấy tứ diệu đế làm bố cục trong
khi bộ Visuddhimagga lấy thất tịnh làm cấu trúc nội
dung. Vào
thế kỷ thứ V sau Tây lịch có hai sự kiện quan trọng xẩy
ra liên quan tới tác phẩm của Ngài là Upatissa là sự ra
đời của tác phẩm Thanh Tịnh Đạo được biên soạn kết hợp
cả hai pháp học và pháp hành. Về lượng thì đồ sộ hơn
nhiều Chính vì sự ra đời của Visuddhimagga đã khiến tác
phẩm Vimuttimagga chìm dần vào quên lãng và hoàn toàn
biến mất. Cũng trong thế kỷ đó một Tăng sĩ tên
Sanghapāla người gốc Mon – Khmer học thuộc lòng bộ kinh
nầy và sang Trung Hoa hoằng hoá cùng với một nhà sư
người Phù Nam tên Mandrasena. Lúc bấy giờ là thời Nam
Bắc Triều ở Trung Hoa với phong trào nghiên cứu Phật
Pháp đang lên. Tác phẩm Vimuttimagga được chuyển dịch
sang Hán ngữ với tựa đề Giải Thoát Đạo Luận
解脫道論.
Mãi tới năm 1936 một học giả uyên bác là ngài Soma cùng
với ngài Kheminda với sự trợ giúp của một nhà sư Nhật
Bản N.RM Ehara chuyển dịch từ chữ Hán sang Pāli và Anh
ngữ. Bản dịch tiếng Anh có tựa đề là “The Path Of
Freedom”.
Mất 14 thế kỷ để châu về hợp phố.
Một tác phẩm pāli có ảnh hướng lớn trong Phật học là bộ
Dhammapadatthakatha (Sớ Giải Pháp Cú Kinh). (Bản tiếng
Việt của tu viện Viên Chiếu có tựa đề là Tích Chuyện
Kinh Pháp Cú). Là bộ sách ghi lại duyên sự mà Đức Phật
đã dạy các câu kinh Pháp Cú. Tổng cộng có 423 kệ ngôn.
Đây là tác phẩm đồ sộ chứa đựng nhiều chi tiết về Đức
Phật, các đệ tử, bối cảnh thời Phật. Chẳng những vậy mà
còn chứa đựng nhiều câu chuyện tiền thân. Theo bộ
Mahavaṁsa thì vào thế kỷ thứ V một nhà sư sanh ở Bodh
Gaya, Magadha có pháp danh là Buddhaghosa (Phật Minh)
vốn tư chất thông minh, kiến thức uyên bác. Được sự yêu
cầu của chư vị trưởng lão làm một chuyến du hành sang
Anuradhapura, Tích Lan để tìm lại những bản Sớ Giải tam
tạng Pāli vốn đã thất truyền tại Ấn Độ thời bấy giờ. Khi
vị nầy đến Tích Lan thì nhận ra rằng có một số bản Sớ
giải chỉ tồn tại bằng tiếng Sinhala. Ngài đã bỏ nhiều
năm để làm công việc là chuyển dịch trở lại những bản
kinh nầy từ tiếng Tích Lan sang Pāli. Trường hợp nầy chỉ
có với Sớ giải chứ chánh tạng Pāli vẫn nguyên vẹn. Không
phải tất cả bản Sớ giải Pāli đều thất truyền. Riêng bản
Sớ giải Kinh Pháp Cú (Dhammapadatthakatha) phải dịch lại
toàn bộ và được san định. Ngài Buddhaghosa được ghi nhận
là một học giả Pāli có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử
Phật giáo. Trong lúc các bản kinh Pāli được xem là nguyên gốc thì cũng nên nhớ có vài trường hợp từ ngọn chuyển lại thành gốc như hai tác phẩm đề cập ở trên. Chữ tương đối rất thích hợp để nói ở đây.
PĀLI TRONG NGHI THỨC
NHẬT HÀNH
HƯỚNG NGUYỆN CÔNG ĐỨC
Yathā vārivahā pūrā Khippameva samijjhatu Sabbe pūrentu saṅkappā Cando paṇṇaraso yathā Maṇi jotiraso yathā Như trăm sông tuôn chảy Ðều hướng về đại dương Nguyện công đức đã tạo Thấu đến chư hương linh Xin tất cả nguyện lành Ðược kíp thời viên đắc Xin ý thiện tâm thành Thường trong sáng chiếu diệu Như trăng tỏ ngày rằm Như ma ni ngọc báu
Bài tập:
Dịch tiếng Pāli sang Việt
1. Vadhū sassuyā dhenuṃ rajjuyā bandhitvā khettaṃ nesi.=
Dịch tiếng Việt sang Pāli
1. Người mẹ đã lấy vàng cất trong rương và cho con gái. = @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
|