|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 05 tháng 12, 2022
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN II-PHẬT PHÁP
Bài 33. NGHIỆP BÁO-NHỮNG HIỂU BIẾT CĂN BẢN VỀ NGHIỆP I.TỔNG QUAN
Tất cả Phật Pháp dù với đề tài nào, nội dung nào cũng liên kết
với nhau và là một phần của tổng thể. Tất cả đều chỉ vào
sự thật và có cùng mục đích giải thoát khổ đau. Những
pháp được đề cập trong kinh điển có thể mang nhiều tên
gọi và đề cập những điểm khác biệt nhưng do được nói từ
nhiều góc nhìn và cho những mục đích riêng. Chính vì
điểm nầy có những đề tài là một phần của chủ đề lớn hơn
hoặc giả mang tính đặc thù cần đơn cử.
Giáo lý duyên khởi (paṭiccasamuppāda)
minh hoạ toàn bộ sự hiện hữu của chúng sanh và bao phủ
nhiều lãnh vực của Phập pháp nên có Phật ngôn: Ai thấy
duyên khởi là thấy Pháp (M. I. 190-91). Phần lớn các học
giả nhận rằng giáo lý duyên khởi quá sâu xa tế nhị. Rất
khó để lãnh hội toàn bộ. Nên không có một bài kinh nào
trình bày tất cả những khía cạnh của duyên khởi.
Có lẽ trong những trình bày liên hệ tới duyên khởi thì nghiệp
báo là phần thường được giảng giải rộng rãi. Có hai lý
do: thứ nhất, nghiệp báo thường được ưa thích được lắng
nghe bởi đa số quần chúng, và thứ hai, là hiểu được
nghiệp báo là có được nhịp cầu để hiểu duyên khởi. Quả
thật nếu hiểu nghiệp báo thì sự tìm hiểu duyên khởi dễ
dàng hơn. Trong tam luân (vaṭṭa)
của duyên khởi thì nghiệp báo bao gồm hai phần:
nghiệp luân và quả luân.
Giáo lý duyên khởi tập chú vào hiện tượng tự nhiên của của
sống trong cái nhìn tổng thể chứ không đơn cử một khía
cạnh riêng lẻ. Chính vì điểm nầy giáo lý nghiệp báo mang
ý nghĩa thực dụng cho cuộc sống hằng ngày vì đề cập đến
cái gì nên làm hay không nên làm hằng ngày và trách
nhiệm của mỗi người đối với sự hiện hữu. Có thể nói về
phương diện nầy nghiệp báo là đề tài quan trọng nhất
trong duyên khởi mà những để tài khác mang tính bổ trợ.
Dựa trên những điều đề cập trên thì duyên khởi là sự trình bày
sâu rộng của nghiệp báo. Và ngược lại, nghiệp báo là sự
trình bày thực dụng của duyên khởi. Điều nầy được Đức
Phật dạy: “Bậc trí hiểu duyên khởi, thiện xảo trong
nghiệp và quả của nghiệp, nhận rõ sở hành theo sự thật”.
(M. II. 196; Sn. 123).
Bài học ngày 5.12.2022
NHỮNG
HIỂU BIẾT CĂN BẢN VỀ NGHIỆP
Nghiệp là một danh từ phổ thông mang nhiều ý
nghĩa dị biệt tuỳ theo chỗ dùng và cách dùng.
Ngay cả với người Phật tử thuật ngữ nghiệp
(kamma) thường khi hiểu không chính xác theo Phật
học. Một thí dụ điển hình là chữ nghiệp thường được hiểu
mà “nghiệp xấu” như trong câu nói “làm việc đó sẽ mang
nghiệp” hay một câu trong Truyện Kiều “đã mang lấy
nghiệp vào thân”. Những cách dùng như vậy rất phiến diện
theo Phật học.
Ý nghĩa tinh xác nhất của nghiệp là chủ tâm tạo
tác hay “tư – cetanā’. Thuộc tánh “tư – cetanā’ nằm trong hành uẩn, là một trong 52 thuộc tánh
của tâm thức được Đức Phật dạy chính là nghiệp. Tư ở đây
mang nghĩa chủ trương tạo tác. Giống như trong một hãng
xưởng có nhiều nhân sự như vị giám đốc điều hành (CEO)
là người chịu trách nhiệm cho đường hướng hoạt động.
Trong ý nghĩa phổ quát thì nghiệp là sở hành qua
thân, ngữ, ý. Đây là những biểu lộ của nghiệp. Đôi khi cũng được gọi là hành
(saṅkhāra) hay
hữu (bhava) nhưng trong duyên khời. Những từ thuật ngữ
nầy nêu lên “nghiệp đã định hình” qua những hành vi như
lời nói, hành động, ý
nghĩ ...v..v..
Mặc dù nghiệp lực có cả hai biệt nghiệp và cộng
nghiệp nhưng trong Phật Pháp thường nhấn mạnh nghiệp là
sở hành của mỗi chúng sanh ngay cả trong sự kết hợp với
chúng sanh khác.
Đây là điểm rất tế nhị trong sự khác biệt trong cách
dùng giữa Phật Pháp và thường thức. Người đời thường
nghĩ tới nghiệp lực như sự đưa đẩy đối với vận mệnh
chung của một dân tộc, một đất nước, một thời đại mà gần
như cá nhân không làm gì khác hơn được. Trong lúc theo
Phật học thì nghiệp báo thường được đề cập như nhân quả
của mỗi cá nhân mà mỗi chúng sanh phải chịu trách nhiệm
và có thể thay đổi qua hành động tích cực.
Định luật về nghiệp là một trong năm định luật
của vũ trụ do đó không nên hiểu tất cả đều do nghiệp.
Năm định luật là: 1. Định lý về Utu (utu-niyāma) chỉ
chung cho năng lượng, nhiệt lượng, vật lý, thời tiết. 2.
Định lý về chủng tử (bīja-niyāma) là sự truyền chủng,
tái tạo, giống nào tạo loại đó.
3. Định lý về tâm
(citta-niyāma) là định lực cố nhiên của tâm thức như về
tiềm thức, hoạt thức, thứ lớp sanh diệt của các thứ tâm
trong một diễn trình tâm. 4. Định lý về nghiệp
(kamma-niyāma)
là sự tương quan nhân quả giữa hành động tạo tác
và quả nghiệp. 5. Định lý về pháp tánh (dhamma-niyāma)
là nguyên tắc chung của vạn hữu thí dụ sự sanh diệt là
bản chất của tất cả pháp hữu vi.
Trong văn hoá Tây Phương ngày nay chữ karma
(viết theo Sanskrit) mang ý nghĩa là sự tạo tác trong
đời quá khứ.
Ý nghĩa nầy rất hẹp theo Phật học. Mặc dù được dùng phổ
thông, đặc biệt là trong khoa bói toán, nhưng không nên
nhầm lẫn với ý nghĩa chữ nghiệp trong Phật Pháp. Cũng
nên nói thêm là trong văn hoá Ấn Độ - nơi khởi nguồn của
dòng lịch sử Đạo Phật - chữ nghiệp được dùng hết sức phổ
thông. Có những khác biệt lớn lao giữa cái hiểu về
nghiệp giữa Phật Pháp và Ba la môn giáo mà người học
Phật cần lưu tâm.
Bài tiếp theo: Các Loại Nghiệp
Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng |