|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 06 tháng 12, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG XI. TƯƠNG ƯNG SAKKA. PHẨM THỨ HAI (S. i, 230)
Bài
3. Kinh Mahāli (Mahālisuttaṃ)
-TRI NHÂN TRI DIỆN TRI “NGHIỆP MỆNH”.
Người đời có
câu”biết người biết mặt nhưng khó biết tâm ý”. Có trường hợp
biết một ai đó không phải chỉ biết mặt, biết tánh hạnh mà
còn biết có túc nghiệp của người đó thì quả là cái biết phi
thường. Ở đây không phải nói về con người trong chốn nhân
gian mà là Thiên chủ Đế Thích Inda mà người Ấn thờ phượng
như Ngọc hoàng Thượng đế ở Trung Hoa. Người ta chỉ biết mơ
hồ đó là một ngôi vị quyền lực lớn lao và rất khó gặp được.
Khi tộc trưởng Mahāli nghe chuyện Thiên chủ Sakka cầu pháp
nơi Đức Phật thì muốn xác định sự việc thế nào. Đức Phật dạy
chẳng những Ngài thấy Thiên chủ Đế Thích mà còn biết rõ
nghiệp duyên nào tác thành quả vị thiên chủ. Câu hỏi bình
thường mà câu trả lời phi thường.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā vesāliyaṃ viharati
mahāvane kūṭāgārasālāyaṃ. Atha kho mahāli licchavī yena
bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho mahāli licchavī
bhagavantaṃ etadavoca –
Tôi nghe như
vầy,
Một thuở Đức Thế
Tôn ngự tại Trùng Các Giảng Đường, trong Ðại Lâm thuộc
Vesāli. Bấy giờ Mahāli, người Licchavi, đi đến Đức Thế Tôn
đảnh lễ Ngài rồi ngồi
xuống một bên.
Sau khi ngồi,
Mahāli người Licchavi bạch Đức Thế Tôn:
‘‘Diṭṭho kho, bhante, bhagavatā sakko devānamindo’’ti?
-- Bạch Đức Thế
Tôn, Ngài có thấy Thiên chủ Sakka không?
‘‘Diṭṭho kho me, mahāli, sakko devānamindo’’ti.
-- Này Mahāli,
Ta có thấy Thiên chủ Sakka.
‘‘So hi nūna, bhante, sakkapatirūpako bhavissati. Duddaso
hi, bhante, sakko devānamindo’’ti.
-- Bạch Thế Tôn,
thật khó thấy được Thiên chủ Sakka. Bạch Thế Tôn, có thể vị
ấy tương tự giống Sakka.
‘‘Sakkañca khvāhaṃ, mahāli, pajānāmi sakkakaraṇe ca dhamme,
yesaṃ dhammānaṃ samādinnattā sakko sakkattaṃ ajjhagā, tañca
pajānāmi.
-- Này Mahāli,
Ta biết Sakka và pháp tác thành ngôi vị Sakka. Chính do hành
trì các pháp ấy, Sakka được địa vị Sakka.
‘‘sakko, mahāli,
devānamindo pubbe manussabhūto samāno magho nāma māṇavo
ahosi, tasmā maghavāti vuccati.
--
Này Mahāli, thuở xưa khi Thiên chủ
Sakka còn thân nhân loại là một thanh niên bà la môn tên là Magha, do vậy
được gọi là Maghavā.
‘‘Sakko, mahāli, devānamindo pubbe manussabhūto samāno pure
dānaṃ adāsi, tasmā purindadoti vuccati.
Này Mahāli, thuở
xưa khi Thiên chủ Sakka còn thân nhân loại vị ấy thường bố
thí từ thị trấn này qua thị trấn khác, do vậy được tên là
Purindado.
‘‘Sakko, mahāli, devānamindo pubbe manussabhūto samāno
sakkaccaṃ dānaṃ adāsi, tasmā sakkoti vuccati.
Này Mahāli, thuở
xưa khi Thiên chủ Sakka còn thân nhân loại
vị ấy thường bố thí
một cách trọn vẹn (Sakkaccaṃ), do vậy được tên là Sakka.
‘‘Sakko, mahāli, devānamindo pubbe manussabhūto samāno
āvasathaṃ adāsi, tasmā vāsavoti vuccati.
Này Mahāli, thuở
xưa khi Thiên chủ Sakka còn thân nhân loại vị ấy thường bố
thí chỗ ở, do vậy được tên là Vāsava.
‘‘Sakko, mahāli, devānamindo
sahassampi atthānaṃ muhuttena cinteti, tasmā sahassakkhoti
vuccati.
Này Mahāli, thuở
xưa khi Thiên chủ Sakka còn thân nhân loại vị ấy có thể suy
nghĩ muôn việc trong khoảnh khắc ngắn, do vậy được tên là
Sahassakkha (thiên nhãn).
‘‘Sakkassa, mahāli, devānamindassa sujā nāma asurakaññā
pajāpati, tasmā sujampatīti vuccati.
Này Mahāli,
thiên hâụ của Sakka là (công chúa) a tu la Sujā, do vậy được
tên là Sujampati.
‘‘Sakko, mahāli, devānamindo devānaṃ tāvatiṃsānaṃ
issariyādhipaccaṃ rajjaṃ kāreti, tasmā devānamindoti
vuccati.
Này Mahāli,
Thiên chủ Sakka thống lãnh và trị vì Tam thập tam thiên, do
vậy được gọi là Thiên chủ.
‘‘Sakkassa, mahāli devānamindassa pubbe manussabhūtassa
satta vatapadāni samattāni samādinnāni ahesuṃ, yesaṃ
samādinnattā sakko sakkattaṃ ajjhagā.
Katamāni satta vatapadāni?
Yāvajīvaṃ mātāpettibharo assaṃ, yāvajīvaṃ kule jeṭṭhāpacāyī
assaṃ, yāvajīvaṃ saṇhavāco assaṃ, yāvajīvaṃ apisuṇavāco
assaṃ, yāvajīvaṃ vigatamalamaccherena cetasā agāraṃ
ajjhāvaseyyaṃ muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo
dānasaṃvibhāgarato, yāvajīvaṃ saccavāco assaṃ, yāvajīvaṃ
akkodhano assaṃ – sacepi me kodho uppajjeyya, khippameva naṃ
paṭivineyya’’nti.
Này Mahāli,
thuở xưa khi Thiên chủ Sakka còn thân nhân loại vị ấy phát
nguyện thọ trì bảy thiện pháp. Do thọ trì bảy lời nguyện
nầy, Sakka được địa vị Sakka.
Bảy
hạnh nguyện gồm
những gì?
"Cho đến trọn đời,
nguyện phụng dưỡng cha
mẹ. Cho đến trọn đời,
nguyện kính trọng
huynh
trưởng. Cho đến
trọn đời,
nguyện nói lời nhu hòa. Cho đến trọn đời,
nguyện không nói lời
chia rẽ. Cho đến trọn đời,
sống
với tâm
không bợn nhơ
bỏn sẻn,
sống
với tâm bố thí, với
bàn tay
rộng mở, hoan hỷ xả tài, nhiệt tình
với từ thiện,
hoan hỷ trong ban bố và chia sẻ.
Cho đến trọn đời,
nguyện nói lời chân thật. Cho đến trọn đời,
nguyện
không phẫn nộ, nếu có phẫn nộ,
nguyện sẽ nhanh chóng đoạn trừ phẫn nộ ấy".
‘‘Sakkassa,
mahāli, devānamindassa pubbe manussabhūtassa imāni
satta vatapadāni samattāni samādinnāni ahesuṃ, yesaṃ
samādinnattā sakko sakkattaṃ ajjhagā’’ti.
Này Mahāli, thuở xưa khi Thiên chủ
còn thân nhân loại vị ấy phát nguyện thọ trì bảy
thiện pháp. Do thọ trì bảy lời nguyện nầy, Sakka được địa vị
Sakka.
‘‘Mātāpettibharaṃ jantuṃ, kule jeṭṭhāpacāyinaṃ;
Ai phụng dưỡng mẹ cha
Đoạn xan tham bỏn sẻn,
Mātāpettibharaṃ jantuṃ = ai phụng dưỡng mẹ cha
Licchavī là một bộ tộc hùng mạnh nằm trong liên hiệp xứ
Vajjī, một xứ theo thể chế dân chủ đại nghị nằm giữa hai
vương quốc lớn là Kosala (Kiều Tát La) và Magadha (Ma Kiệt
Đà). Người Licchavī được biết là có ngoại hình cao lớn uy
dũng "như chư thiên Tam Thập Tam”. Họ giàu có nhưng không
sống xa xỉ. Cường thịnh nhưng sống hoà hài đoàn kết. Một số
lớn người Licchavī quy ngưỡng Tam Bảo. Họ được nhắc nhiều
trong kinh điển. Mahāli là một trong những tộc trưởng của người Licchavī. Được
giáo dục từ trung tâm học thuật nổi tiếng Takkasilā. Khi trở
về Vesāli, Mahāli dành nhiều nỗ lực đào tạo nhân tài cho bộ
tộc Licchavī. Mahāli có quan hệ mật thiết với cả hai vị vua
láng giềng là Bimbisara (Bình Sa Vương) và Pasenadi (Ba Tư
Nặc). Chính Mahāli đến Veluvana (Trúc Lâm Tịnh Xá) để cung
thỉnh Đức Phật đến Vesāli khi xứ nầy bị đại dịch. Vợ của
Mahāli là đại tín nữ Suppavāsā. Hai người có người con là
một danh tăng là tôn giả Sīvalī. Mahāli nêu lên câu hỏi về Thiên chủ Sakka sau khi được nghe
nói về bài pháp Đức Phật giảng cho thiên chủ như được ghi
lại trong kinh Sakkapañha Sutta (Kinh Đế Thích Sở Vấn) Theo Sớ Giải Kinh Pháp Cú (DhA.iii.438) sau nầy Mahāli chứng
thánh quả tu đà huờn.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |