BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 07 tháng 12, 2022

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG XI. TƯƠNG ƯNG SAKKA. PHẨM THỨ HAI (S. i, 231)

 Bài 4. Kinh Người Nghèo Khó (Daliddasuttaṃ) -HOA KHAI BẤT TRẠCH BẦN GIA ĐỊA.

 

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Người đời thường nhìn ai đó qua xuất thân. Con vua thì được làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa. Trong Phật pháp thì điều đáng không phải là hiện trạng mà là hướng đi. Có người từ chỗ tối đi tới chỗ tối; có người từ chỗ tối đi đến chỗ sáng. Và cũng có những trường hợp ngược lại. Điểm then chốt ở đây là thiện pháp có hiển sinh trong cuộc sống hay không. Có thiện pháp thì có những hiệu ứng thù thắng. Hoa nở vốn không phân vườn đất của người nghèo hay giàu.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –

Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại  khu Kalandakanivāpe (chỗ cho sóc ăn).

Đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu: "Này các tỳ khưu”

"Dạ, bạch Thế Tôn." Chư  tỳ khưu trả lời.

Đúc Thế Tôn nói như sau:

‘‘Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, aññataro puriso imasmiṃyeva rājagahe manussadaliddo ahosi manussakapaṇo manussavarāko.

So tathāgatappavedite dhammavinaye saddhaṃ samādiyi, sīlaṃ samādiyi, sutaṃ samādiyi, cāgaṃ samādiyi, paññaṃ samādiyi.

So tathāgatappavedite dhammavinaye saddhaṃ samādiyitvā sīlaṃ samādiyitvā sutaṃ samādiyitvā cāgaṃ samādiyitvā paññaṃ samādiyitvā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajji devānaṃ tāvatiṃsānaṃ sahabyataṃ. So aññe deve atirocati vaṇṇena ceva yasasā ca.

-- Này các tỳ khưu trước đây tại thành Vương Xá này có người nghèo,  cùng đinh, khốn khó.

Người ấy huân tu tín, huân tu giới, huân tu thí, huân tu tuệ trong pháp và luật do Như Lai tuyên thuyết.

Sau khi thân hoại mệnh chung người ấy sanh lên cảnh giới an lạc, cõi  trời, cộng trú với chư thiên Tam Thập Tam Thiên. Vị ấy chói sáng hơn chư thiên khác về dung sắc và danh tiếng do huân tu tín, huân tu giới, huân tu thí, huân tu tuệ trong pháp và luật do Như Lai tuyên thuyết.

Tatra sudaṃ, bhikkhave, devā tāvatiṃsā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti – ‘acchariyaṃ vata bho, abbhutaṃ vata bho! Ayañhi devaputto pubbe manussabhūto samāno manussadaliddo ahosi manussakapaṇo manussavarāko; so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapanno devānaṃ tāvatiṃsānaṃ sahabyataṃ. So aññe deve atirocati vaṇṇena ceva yasasā cā’’’ti.

Do sự kiện như vậy chư thiên ở Tam Thập Tam Thiên thấy khó chịu, tức tối, than phiền: Thật lạ lủng, thật khó tin. Vị thiên tử nầy thuở xưa là người nghèo,  cùng đinh, khốn khó. Sau khi thân hoại mệnh chung người ấy sanh lên cảnh giới an lạc, cõi  trời, cộng trú với chư thiên Tam Thập Tam Thiên. Vị ấy chói sáng hơn chư thiên khác về dung sắc và danh tiếng

‘‘Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo deve tāvatiṃse āmantesi – ‘mā kho tumhe, mārisā, etassa devaputtassa ujjhāyittha. Eso kho, mārisā, devaputto pubbe manussabhūto samāno tathāgatappavedite dhammavinaye saddhaṃ samādiyi, sīlaṃ samādiyi, sutaṃ samādiyi, cāgaṃ samādiyi, paññaṃ samādiyi. So tathāgatappavedite dhammavinaye saddhaṃ samādiyitvā sīlaṃ samādiyitvā sutaṃ samādiyitvā cāgaṃ samādiyitvā paññaṃ samādiyitvā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapanno devānaṃ tāvatiṃsānaṃ sahabyataṃ. So aññe deve atirocati vaṇṇena ceva yasasā cā’’’ti.

Này các tỳ khưu Thiên chủ Sakka nói chư Thiên ở Tam thập tam thiên: Các bạn thân mến, chớ khó chịu bực tức với vị thiên tử ấy. Thiên tử ấy do huân tu tín, huân tu giới, huân tu thí, huân tu tuệ trong pháp và luật do Như Lai tuyên thuyết nên sau khi thân hoại mệnh chung người ấy sanh lên cảnh giới an lạc, cõi  trời, cộng trú với chư thiên Tam Thập Tam Thiên. Vị ấy chói sáng hơn chư thiên khác về dung sắc và danh tiếng.

Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo deve tāvatiṃse anunayamāno tāyaṃ velāyaṃ imā gāthāyo abhāsi –

Này các tỳ khưu Thiên chủ Sakka sau khi nói vậy với chư Thiên ở Tam thập tam thiên liền nói lên kệ ngôn:

‘‘Yassa saddhā tathāgate, acalā suppatiṭṭhitā;
Sīlañca yassa kalyāṇaṃ, ariyakantaṃ pasaṃsitaṃ.
‘‘Saṅghe pasādo yassatthi, ujubhūtañca dassanaṃ;
Adaliddoti taṃ āhu, amoghaṃ tassa jīvitaṃ.
‘‘Tasmā saddhañca sīlañca, pasādaṃ dhammadassanaṃ;
Anuyuñjetha medhāvī, saraṃ buddhāna sāsana’’nti.

Ai với niềm tin Phật
Kiên cố và bất động
Sống hiền thiện giới hạnh
Được bậc trí tán thán

Ai tịnh tín nơi Tăng
Với cái nhìn chánh trực
Người ấy không phải nghèo
Không sống trong hư vọng

Do vậy người hiền trí
Phụng hành lời Phật dạy
Với cả tín và giới
Do hiểu biết Chánh Pháp

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

‘‘Yassa saddhā tathāgate, acalā suppatiṭṭhitā = ai có niềm tin kiên cố bất động ở Đấng Như Lai
Sīlañca yassa kalyāṇaṃ, ariyakantaṃ pasaṃsitaṃ = sống hiền thiện trong giới hạnh được bậc thánh tán thán
‘‘Saṅghe pasādo yassatthi, ujubhūtañca dassanaṃ = ai có tịnh tín nơi Tăng già và cái nhìn chánh trực
Adaliddoti taṃ āhu, amoghaṃ tassa jīvitaṃ = được gọi là người không nghèo, không sống trong hư vọng
‘‘Tasmā saddhañca sīlañca, pasādaṃ dhammadassanaṃ = thấy hiểu chân pháp với niềm tin và giới hạnh
Anuyuñjetha medhāvī, saraṃ buddhāna sāsana’nti = bậc thiện trí phụng hành lời dạy của Đức Phật

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Theo Sớ giải thì người nghèo khốn khó trong bài kinh nầy là một người bị bệnh phong cùi tên Suppabuddha. Câu chuyện chi tiết về người nầy được kể trong Kinh Phật Tự Thuyết câu 48-50. Người cùi nầy trong một kiếp tiền thân là vua của xứ Bārāṇasī do xúc phạm một vị Phật Độc Giác già nua nên sau khi mạng chung sanh vào địa ngục. Khi sanh lại làm người quả nghiệp dư sót khiến sanh làm một người hành khất bị cùi trong thành Vương Xá. Một ngày kia tình cờ đi ngang pháp hội nghe được Phật thuyết pháp chứng tu đà huờn. Sau nầy bị một con bò húc chết và sanh về cõi Đao lợi.

Câu “Deve tāvatiṃse anunayamāno” được Sớ Giải Tăng Chi Bộ anubodhayamāno, saññāpentī có nghĩa là làm cho hiểu, thuyết phục. Ý câu nầy là Thiên chủ Sakka đã khiến cho chư thiên Tam Thập Tam hiều được lý lẽ.

Chú giải cũng nêu niềm tin đến từ chứng đạo (maggen′āgatasaddhā), sự hiền thiện y cứ trên giới (sīlaṃ kalyāṇaṃ) và giới hạnh của bậc thánh được thánh giả tán thán (ariyakantasīla). Tất cả những đặc điểm nầy đều là những gì thù thắng quả vị tu đà huờn. Sớ giải Kinh Pháp Cú cũng kể lại giai thoại Thiên chủ Sakka từng thử thách niềm tin Phật, Pháp của người cùi Suppabuddha.

 

Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-