|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 08 tháng 12, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ VII. PHẨM A LA HÁN (arahantavagga) Gồm 10 bài kệ với 10 duyên sự. - Kệ số 3 (dhp 92)
Duyên sự: Bài
kệ nầy được đức Phật thuyết tại chùa Jetavana thành
Sāvatthi, do câu chuyện của trưởng lão Belaṭṭhasīsa, thầy tế
độ của Tôn giả Ānanda.
Tương truyền, trưởng lão Belaṭṭhasīsa muốn dành thời gian an
trú lạc thiền định, không bận rộn với việc đi khất thực mỗi
ngày, nên trưỡng lão đi khất thực một ngày rồi lấy cơm phơi
khô để dành ăn trong vài ngày. Các
tỳ kheo thấy Trưỡng lão Belaṭṭhasīsa vài ngày mới đi khất
thực một lần, bèn hỏi trưỡng lão làm sao sống được?
Trưỡng lão trả lời các tỳ kheo việc Ngài đã phơi cơm khô rồi
mỗi ngày ngâm nước mà ăn để khỏi phải mất thời gian đi khất
thực. Chư
tỳ kheo đã đem sự việc ấy bạch với đức Phật. Đức
Phật nhân sự việc nầy đã ban hành điều học: “vị tỳ kheo nào
thọ dùng vật thực được dự trữ, phạm tội ưng đối trị (điều
38, phẩm thứ tư)”. Ngài cũng giải thích cho chư tỳ kheo
rằng: Trưởng lão Belaṭṭhasīsa không phạm tội vì vị ấy sống
hạnh thiểu dục tri túc, và vì hành động khi học giới chưa
được ban hành. Kế
đó, đức Thế tôn thuyết pháp và nói lên bài kệ nầy:
“Yesaṃ sannicayo natthi … gati tesaṃ durannayā’ ti”.
Chánh văn:
(dhp 92)
Yesaṃ sannicayo
natthi Thích văn:
yesaṃ [sở thuộc cách số nhiều của quan hệ đại từ
ya] của những ai,
đối với những người nào. Việt văn: (pc 92)
Chuyển văn:
Yesaṃ sannicayo natthi, ye pariññātabhojanā, yesaṃ gocaro
suññato animitto ca vimokkho, tesaṃ gati ākāse sukuntānaṃ
iva durannayā. Đối
với ai không có sự tích trữ, những ai quán tri vật thực, đối
với người có hành xứ là không tánh giải thoát, vô tướng giải
thoát (và, vô nguyện giải thoát), đối với những người ấy
hướng đi không thể tìm thấy như lộ trình của loài chim trên
bầu trời.
Lý giải: Bài
kệ nầy đức Phật ám chỉ trạng thái bậc A la hán. Đối
với vị A la hán không có tích trữ nghiệp
(kammasannicaya) và tích trữ vật dụng
(paccayasannicaya), nghĩa là vị A la hán không còn tạo
nghiệp thiện ác để cho quả dị thục nữa, và cũng không cất
giữ bốn nhu yếu phẩm như y phục, thức ăn, sàng toạ, thuốc
dùng chiều (đường, sữa, mật ong ..v.v..) vì đã ly
tham. Vị
A la hán quán tri vật thực (pariññātabhojanā). Có
ba cách quán tri (pariññā) là quán tri thường thức
(ñātapariññā), quán tri suy diễn
(tīraṇapariññā), quán tri đoạn trừ (pahānapariññā).
Thức ăn quán tri thường thức, như là nhận biết vật thực chỉ
là phương tiện duy trì mạng sống; Thức ăn quán tri suy diễn,
như là tưởng nhờm gớm vật thực, bẩn thiểu do nhai nuốt, trữ
trong dạ dày, trộn lẫn tiêu hoá, đào thải ra ngoài
..v.v..; Thức ăn quán tri đoạn trừ, tức là trí dẹp bỏ
dục tham đối với đoàn thực. Vị A la hán quán tri vật thực
theo ba cách ấy.
Hành xứ hay cảnh giới an trú (gocara) của bậc A la
hán là ba thứ giải thoát: không tánh giải thoát
(suññatavimokkha), vô tướng giải thoát
(animittavimokkha) và vô nguyện giải thoát
(appaṇihitavimokkha). Chứng níp bàn do quán vô ngã nên
gọi là không tánh giải thoát; Chứng níp bàn do quán vô
thường nên gọi là Vô tướng giải thoát; Chứng níp bàn do quán
khổ não nên gọi là vô nguyện giải thoát. Ba sự giải thoát
nầy là tên gọi cho níp bàn, theo phương tiện tuỳ quán của
hành giả. Trong bài kệ vì giới hạn từ nên chỉ nêu có hai:
suññato animitto ca_vimokkho yesaṃ gocaro. Vị
A la hán không còn tái sanh, sau khi vô dư y níp bàn thì các
Ngài không có lộ trình luân hồi hay sanh thú (gati)
có năm là: thiên giới, nhân giới, địa ngục, ngạ quỉ, Atula
và bàng sanh. Không thể tìm thấy năm sanh thú đối với vị đã
hoàn toàn chấm dứt sanh tử luân hồi, ví như lộ trình của
loài chim trên hư không không để lại dấu vết. Tuỳ
theo duyên sự mà đức Phật thuyết kệ ngôn mô tả hành trạng
của vị A la hán. Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |