|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật , 11 tháng 12, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ VII. PHẨM A LA HÁN (arahantavagga) Gồm 10 bài kệ với 10 duyên sự. - Kệ số 4 (dhp 93)
Duyên sự: Bài
kệ nầy đức Phật đã thuyết tại Rājagaha khi Ngài trú ở tịnh
xá Veḷuvana, nhân câu chuyện của trưởng lão Anuruddha.
Trưởng lão Anuruddha có y đã cũ rách (jiṇṇacīvaro).
Nên vào một ngày, trưởng lão tìm vải trong những đống rác để
may y.
Thiên nữ Jālinī ở cung trời Đao-lợi thấy trưởng lão đang tìm
những mảnh vải, nghĩ rằng: nếu trực tiếp dâng cúng vải cho
trưởng lão, Ngài sẽ không nhận. Nên thiên nữ ấy lấy ba xấp
vải đặt trên ba đống rác như đồ quăng bỏ, trước khi trưởng
lão đến tìm vải phấn tảo.
Trưởng lão Anuruddha đến nơi các đống rác thấy được vải,
Ngài nhặt lấy với ý nghĩ: “đây là vải phấn tảo”, rồi đi về.
Ngày may y cho Trưởng lão Anuruddha có đức Phật và tám vị
đại thinh văn cùng phụ giúp. Vị
thiên nữ đi vào trong làng và kêu gọi dân chúng: “Quí vị ơi,
đức Đạo Sư có tám mươi vị đại thinh văn tuỳ tùng đang may y
cho Ngài trưởng lão Anuruddha của chúng ta, Các Ngài đang
ngự trong tịnh xá với khoảng 500 vị tỳ kheo, quí vị hãy mang
thức ăn cơm hoặc cháo đến tịnh xá để cúng dường đức Thế tôn
và chư tăng”. Thế
là mọi người lũ lượt đến chùa mang theo thức ăn cúng dường.
Vật thực nhiều đến nỗi chư Tăng dùng không hết, còn dư lại
đổ thành một đống lớn. Các
vị tỳ kheo phàm nhân không hiểu chuyện, có lời bàn tán rằng:
“Có lẽ Trưởng lão Anuruddha muốn tỏ ra mình có nhiều thân
quyến hộ độ nên kêu gọi mọi người đem vật thực đến nhiều như
vậy!”. Đức
Phật nghe các tỳ kheo nói vậy, Ngài đã phán bảo: “không phải
do con trai ta, Anuruddha, kêu họ đem vật thực đâu! đây là
một thiên nữ kêu gọi dân làng đấy. Không bao giờ các bậc Lậu
tận nói chuyện liên quan vật thực”. Rồi
đức Thế tôn nói lên bài kệ: “Yass’ āsavā parikkhīṇā …
padantassa durannayaṃ ’ti”.
Chánh văn:
(dhp 93)
Yassāsavā parikkhīṇā Thích văn:
yassāsavā [hợp âm
yassa āsavā] Việt văn: (pc 93)
Chuyển văn:
Yassa āsavā parikkhīṇā āhāre ca anissito yassa gocaro
suññato animitto ca vimokkho, tassa padaṃ ākāse sakuntāṇaṃ
iva durannayaṃ. Đối
với người mà các lậu hoặc đã tận diệt, sống không lệ thuộc
đồ ăn, đối với người có hành xứ là không tánh giải thoát, vô
tướng giải thoát (và, vô nguyện giải thoát), dấu chân của
người ấy không thể tìm thấy như dấu vết của loài chim trên
bầu trời.
Lý giải: Bài
kệ nầy đức Phật cũng mô tả về hành trạng của vị A la hán. Vị
A la hán là người mà các lậu hoặc, như dục lậu
(kāmāsava), hữu lậu (bhavāsava), kiến lậu
(diṭṭhāsava), vô minh lậu (avijjāsava), đã bị
diệt tận. Nên gọi là bậc lậu tận (khīṇāsavo). Vị
A la hán không còn lệ thuộc đồ ăn, tức là vị ấy không còn
nghĩ tưởng hay ham muốn về thức ăn thức uống, ngon hay dở,
nhiều hay ít ..v.v.. Trong bài kệ đức Phật nói điều
nầy là vì liên quan đến Ngài Anuruddha bị các tỳ kheo bêu
xấu là Ngài kêu gọi cư sĩ cúng nhiều thức ăn. Vị
A la hán có hành xứ (gocara) là không tánh giải
thoát (suññatāvimokkha), vô tướng giải thoát
(animittavimokkha) và vô nguyện giải thoát (appaṇihitavimokkha),
điểm nầy có ý nghĩa giống như ở bài kệ trước (dhp 92). Vị
A la hán vô dư y níp bàn thì không thể tìm thấy dấu vết tái
sanh như loài chim bay đi trong hư không, không thể thấy
được dấu chân của chúng. Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |