|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 12 tháng 12, 2022
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN II-PHẬT PHÁP
Bài 33. NGHIỆP BÁO-CÁC LOẠI NGHIỆP I.TỔNG QUAN
Tất cả Phật Pháp dù với đề tài nào, nội dung nào cũng liên kết
với nhau và là một phần của tổng thể. Tất cả đều chỉ vào
sự thật và có cùng mục đích giải thoát khổ đau. Những
pháp được đề cập trong kinh điển có thể mang nhiều tên
gọi và đề cập những điểm khác biệt nhưng do được nói từ
nhiều góc nhìn và cho những mục đích riêng. Chính vì
điểm nầy có những đề tài là một phần của chủ đề lớn hơn
hoặc giả mang tính đặc thù cần đơn cử.
Giáo lý duyên khởi (paṭiccasamuppāda)
minh hoạ toàn bộ sự hiện hữu của chúng sanh và bao phủ
nhiều lãnh vực của Phập pháp nên có Phật ngôn: Ai thấy
duyên khởi là thấy Pháp (M. I. 190-91). Phần lớn các học
giả nhận rằng giáo lý duyên khởi quá sâu xa tế nhị. Rất
khó để lãnh hội toàn bộ. Nên không có một bài kinh nào
trình bày tất cả những khía cạnh của duyên khởi.
Có lẽ trong những trình bày liên hệ tới duyên khởi thì nghiệp
báo là phần thường được giảng giải rộng rãi. Có hai lý
do: thứ nhất, nghiệp báo thường được ưa thích được lắng
nghe bởi đa số quần chúng, và thứ hai, là hiểu được
nghiệp báo là có được nhịp cầu để hiểu duyên khởi. Quả
thật nếu hiểu nghiệp báo thì sự tìm hiểu duyên khởi dễ
dàng hơn. Trong tam luân (vaṭṭa)
của duyên khởi thì nghiệp báo bao gồm hai phần:
nghiệp luân và quả luân.
Giáo lý duyên khởi tập chú vào hiện tượng tự nhiên của của
sống trong cái nhìn tổng thể chứ không đơn cử một khía
cạnh riêng lẻ. Chính vì điểm nầy giáo lý nghiệp báo mang
ý nghĩa thực dụng cho cuộc sống hằng ngày vì đề cập đến
cái gì nên làm hay không nên làm hằng ngày và trách
nhiệm của mỗi người đối với sự hiện hữu. Có thể nói về
phương diện nầy nghiệp báo là đề tài quan trọng nhất
trong duyên khởi mà những để tài khác mang tính bổ trợ.
Dựa trên những điều đề cập trên thì duyên khởi là sự trình bày
sâu rộng của nghiệp báo. Và ngược lại, nghiệp báo là sự
trình bày thực dụng của duyên khởi. Điều nầy được Đức
Phật dạy: “Bậc trí hiểu duyên khởi, thiện xảo trong
nghiệp và quả của nghiệp, nhận rõ sở hành theo sự thật”.
(M. II. 196; Sn. 123).
Bài học ngày 5.12.2022
NHỮNG
HIỂU BIẾT CĂN BẢN VỀ NGHIỆP
Nghiệp là một danh từ phổ thông mang nhiều ý
nghĩa dị biệt tuỳ theo chỗ dùng và cách dùng.
Ngay cả với người Phật tử thuật ngữ nghiệp
(kamma) thường khi hiểu không chính xác theo Phật
học. Một thí dụ điển hình là chữ nghiệp thường được hiểu
mà “nghiệp xấu” như trong câu nói “làm việc đó sẽ mang
nghiệp” hay một câu trong Truyện Kiều “đã mang lấy
nghiệp vào thân”. Những cách dùng như vậy rất phiến diện
theo Phật học.
Ý nghĩa tinh xác nhất của nghiệp là chủ tâm tạo
tác hay “tư – cetanā’. Thuộc tánh “tư – cetanā’ nằm trong hành uẩn, là một trong 52 thuộc tánh
của tâm thức được Đức Phật dạy chính là nghiệp. Tư ở đây
mang nghĩa chủ trương tạo tác. Giống như trong một hãng
xưởng có nhiều nhân sự như vị giám đốc điều hành (CEO)
là người chịu trách nhiệm cho đường hướng hoạt động.
Trong ý nghĩa phổ quát thì nghiệp là sở hành qua
thân, ngữ, ý. Đây là những biểu lộ của nghiệp. Đôi khi cũng được gọi là hành
(saṅkhāra) hay
hữu (bhava) nhưng trong duyên khời. Những từ thuật ngữ
nầy nêu lên “nghiệp đã định hình” qua những hành vi như
lời nói, hành động, ý
nghĩ ...v..v..
Mặc dù nghiệp lực có cả hai biệt nghiệp và cộng
nghiệp nhưng trong Phật Pháp thường nhấn mạnh nghiệp là
sở hành của mỗi chúng sanh ngay cả trong sự kết hợp với
chúng sanh khác.
Đây là điểm rất tế nhị trong sự khác biệt trong cách
dùng giữa Phật Pháp và thường thức. Người đời thường
nghĩ tới nghiệp lực như sự đưa đẩy đối với vận mệnh
chung của một dân tộc, một đất nước, một thời đại mà gần
như cá nhân không làm gì khác hơn được. Trong lúc theo
Phật học thì nghiệp báo thường được đề cập như nhân quả
của mỗi cá nhân mà mỗi chúng sanh phải chịu trách nhiệm
và có thể thay đổi qua hành động tích cực.
Định luật về nghiệp là một trong năm định luật
của vũ trụ do đó không nên hiểu tất cả đều do nghiệp.
Năm định luật là: 1. Định lý về Utu (utu-niyāma) chỉ
chung cho năng lượng, nhiệt lượng, vật lý, thời tiết. 2.
Định lý về chủng tử (bīja-niyāma) là sự truyền chủng,
tái tạo, giống nào tạo loại đó.
3. Định lý về tâm
(citta-niyāma) là định lực cố nhiên của tâm thức như về
tiềm thức, hoạt thức, thứ lớp sanh diệt của các thứ tâm
trong một diễn trình tâm. 4. Định lý về nghiệp
(kamma-niyāma)
là sự tương quan nhân quả giữa hành động tạo tác
và quả nghiệp. 5. Định lý về pháp tánh (dhamma-niyāma)
là nguyên tắc chung của vạn hữu thí dụ sự sanh diệt là
bản chất của tất cả pháp hữu vi.
Trong văn hoá Tây Phương ngày nay chữ karma
(viết theo Sanskrit) mang ý nghĩa là sự tạo tác trong
đời quá khứ.
Ý nghĩa nầy rất hẹp theo Phật học. Mặc dù được dùng phổ
thông, đặc biệt là trong khoa bói toán, nhưng không nên
nhầm lẫn với ý nghĩa chữ nghiệp trong Phật Pháp. Cũng
nên nói thêm là trong văn hoá Ấn Độ - nơi khởi nguồn của
dòng lịch sử Đạo Phật - chữ nghiệp được dùng hết sức phổ
thông. Có những khác biệt lớn lao giữa cái hiểu về
nghiệp giữa Phật Pháp và Ba la môn giáo mà người học
Phật cần lưu tâm.
Bài
học ngày
12.12.2022
CÁC
LOẠI NGHIỆP
Nghiệp được phân loại với nhiều bảng liệt kê trong
Tam Tạng kinh điển. Ba phạm trù sau đây có thể được
xem là thường thấy và là căn bản để hiểu về nghiệp
theo Phật Pháp. Những phân loại nầy dù tương đối dễ
hiểu trên phương diện văn tự nhưng mang nhiều ý
nghĩa tế nhị cần được đào sâu.
Nghiệp chia theo căn cội (hetu)
Căn
cội hay nhân là chữ
dịch của thuật ngữ hetu. Có tất cả sáu nhân
là tham (lobha), sân (dosa), si (moha), vô tham
(alobha), vô sân (adosa), vô si (amoha). Ba nhân đầu
là tham, sân, si thuộc về nhóm bất thiện. Ba nhân
sau là vô tham, vô sân, vô si thuộc về nhóm thiện.
Ba nhân thiện không phải chỉ đơn giản là không tham,
không sân, không si
mà còn mang ý nghĩa đối ngược xa hơn: vô tham
là trạng thái không vướng mắc, vô sân là trạng thái
hoà dịu mát mẽ, vô si là trí tuệ sáng suốt.
Không có sự tạo tác hay nghiệp nào nằm ngoài căn cội
bất thiện hay thiện. Nói cách khác đã là nghiệp thì
chỉ có thể là bất thiện hay là thiện chứ không thể
nằm ngoài hai trạng thái nầy. Nghiệp theo Phật Pháp
không có trung tính trên phương diện căn cội.
Sự
khéo léo hay thiện xảo trong tạo tác được xem là do
căn cội. Những thể hiện nào bắt nguồn từ tham, sân,
si đều là vụng về được xem là ô nhiễm. Trái lại
những hành động nào bắt nguồi từ vô tham, vô sân, vô
si là thiện xảo hay được xem là trong sạch.
Nghiệp chia theo cửa ngõ (dvāra)
Có
ba cửa thể hiện sở hành của chúng sanh là thân
nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp. Thân nghiệp
(kāyakamma) là hành động của thân như sát
sanh, trộm cắp … Ngữ nghiệp (vacīkamma) là nghiệp thể hiện qua ngôn từ như nói dối, nói
chia rẽ … Ý nghiệp
(manokamma)
là nghiệp thể hiện qua tư duy như tham ác, sân ác,
tà kiến ...
Khi phân chia nghiệp theo thân, ngữ, ý thì dễ dàng
để nói về bất thiện nghiệp (ba
nghiệp bất thiện
thuộc thân, bốn
nghiệp bất thiện thuộc ngữ, ba nghiệp bất
thiện thuộc ý). Nhưng khi nói về thiện nghiệp thì
thường là kết hợp cả ba như bố thí, trì giới
… Mặc dù thập thiện và thập ác là hai bảng liệt kê
theo thân, ngữ, ý nhưng trên phương diện thiện
nghiệp thì không nói hết (…)
Chữ
khẩu nghiệp ở đây dịch là ngữ nghiệp vì đôi khi sự
ăn uống được xem là nghiệp qua cửa miệng nhưng đó
thuộc về thân. Trong lúc sự biểu đạt qua ngôn từ như
viết lách, email, tin nhắn ngày nay không dùng miệng
nói nhưng nên hiểu là tạo tác qua ngôn từ nên dịch
là ngữ nghiệp. Chữ vacī trong Phạn ngữ là lời nói.
Trong ba nghiệp vừa kể thì ý nghiệp tạo quả nặng
nhất. Trong ý nghiệp thì tà kiến được xem là xấu
nhất và mang lại nhiều bất hạnh nhất.
Nghiệp chia theo quả báo (vipāka)
Sự
tương quan giữa nhân và quả là một phạm trù cần được
hiểu khác hơn với sự phân chia theo căn cội. Ở đây
có bốn thứ nghiệp được nói đến:
a.
Nghiệp đen kết quả đen. Như hành động sát sanh tạo
nên quả chết yểu.
b.
Nghiệp trắng kết quả trắng. Như hành động cung kính
bậc đáng tạo quả cao sang.
c.
Nghiệp trắng lẫn đen tạo quả đen lẫn trắng. Là hành
động mang cả hai bản chất thiện và bất thiện như một
người bố thí trong đó có tính cạnh tranh để người
khác không làm được như mình. Đa số sở hành của con
người thuộc loại nghiệp nầy.
d.
Nghiệp không trắng không đen kết quả không đen không
trắng. Đây là
nghiệp đoạn nghiệp. Nói cách khác là sự tu
tập dẫn đến vượt thoát nghiệp lực như tu thất giác
chi hay bát chánh đạo.
Sự
phân chia nghiệp theo phạm trù nầy có khác với phạm
trù đầu tiên ở điểm là nói về hiện tượng hơn là bản
chất. Nói về bản chất thì thiện và bất thiện không
thể pha trộn. Nói về về hiện tượng thì có sự hỗn
hợp.
Khái
niệm về thứ nghiệp “không trắng không đen kết quả
không đen không trắng” thường ít khi được hiểu chính
xác, ngay cả đối với người Phật tử, vì người ta
thường nghĩ là trong sự tu tập “công phu tạo nên
công đức” mà công đức tương đồng với phước báu. Mặc
dù Phật pháp có nói đến “phước vô lậu” nhưng cứu
cánh giải thoát là vượt lên trên thiện ác, nghiệp
quả.
Bài
tiếp theo: Thiện Ác theo
Nghiệp Báo
Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng |