|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 14 tháng 12, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG XI. TƯƠNG ƯNG SAKKA. PHẨM THỨ HAI (S. i, 233)
Bài
7. Kinh Kính Lễ Phật Đà (Buddhavandanāsuttaṃ)
-ĐẶC THÙ CỦA CÁC ĐẤNG NHƯ LAI.
Không có sự khác biệt trong sự chứng đạt niết bàn hoàn toàn
giải thoát của chư vị ứng cúng la hán. Thế nhưng các Đấng
Như Lai hay chư Phật toàn giác có những ưu việt mà chư vị
độc giác và thinh văn giác không sánh được. Các Ngài tự thân
giác ngộ không thầy chỉ dạy, có khả năng dẫn dắt quần sanh
trên đạo lộ giải thoát, và xây dựng ngôi nhà giáo pháp với
văn nghĩa cụ túc. Ở trong đời nầy có rất nhiều người giỏi
như tự mình phát minh, có khả năng hướng dẫn người khác và
lập thuyết để đời không phải ai cũng làm được.
Sāvatthiyaṃ jetavane. Tena kho pana samayena bhagavā
divāvihāragato hoti paṭisallīno. Atha kho sakko ca
devānamindo brahmā ca sahampati yena bhagavā
tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā paccekaṃ dvārabāhaṃ nissāya
aṭṭhaṃsu. Atha kho sakko devānamindo bhagavato santike imaṃ
gāthaṃ abhāsi –
Tại Jetavana (Kỳ Viên), Sāvatthi (Xá Vệ).
Bấy giờ, Đức Thế Tôn đang độc cư tịnh mặc ban ngày. Rồi
Thiên chủ Sakka và Phạm thiên Sahampati đi đến Đức Thế Tôn
và mỗi vị đứng một bên tại cột cửa.
Thiên chủ Sakka nói lên kệ ngôn này trước Đức Thế Tôn:
Uṭṭhehi vīra vijitasaṅgāma,
Ðứng lên Đấng Đại hùng,
(Phạm thiên Sahampati):
‘‘Na kho, devānaminda, tathāgatā evaṃ vanditabbā.
Evañca kho, devānaminda, tathāgatā vanditabbā
‘‘Uṭṭhehi vīra vijitasaṅgāma,
Ðứng lên Đấng Đại hùng,
Uṭṭhehi vīra vijitasaṅgāma = Xin
đứng lên hỡi Bậc Đại Hùng, Đấng Chiến Thắng
Phạm thiên Sahampati (Sa Bà Giáo Chủ) là vị Đại Phạm Thiên ở
cõi sắc giới là vị có vai trò thỉnh Phật chuyển Pháp Luân và
có nhiều liên hệ đến sự tồn tại của Giáo Pháp trong thế
gian. Trong văn hoá Phật giáo Bắc truyền thì cụm từ “Ta Bà
Giáo Chủ” chỉ cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Do thọ mạng dài
nên Đại Phạm Thiên biết được nhiều vị Phật toàn giác, một
điều vượt tầm của thiên chủ Sakka.
Đứng
một bên là cách thể hiện sự cung kính đặc biệt là từ những
vị có danh phận cao như đại phạm thiên và thiên chủ. Chữ
uṭṭhehi biến thể của động từ uṭṭhahati được dịch là “Xin hãy
đứng lên” ở đây không mang nghĩa đen mà theo văn phong là
lời thỉnh an theo cách cung kính.
Theo Sớ giải thì thuật ngữ pannabhāro – gánh nặng đã đặt
xuống – là sự giải thoát đối với ba thứ: gánh nặng của năm
uẩn, gánh nặng của phiền não, gánh nặng của tạo tác
(pannabhārāti oropitakhandhakilesābhisaṅkhārabhāra) Lời
xưng tán của Thiên chủ Sakka chỉ nói lên sự giái thoát tối
thượng của chư vị a la hán mà Đức Phật là một trong những vị
ây. Lời xưng tán của Đại Phạm thiên Sahampati nêu lêu sự đặc
thù của Phật toàn giác so với chư vị độc giác, thinh văn
giác. Có
ba đặc điểm của một vị toàn giác là tự giác (tự thân giác
ngộ không thầy chỉ dạy), giác tha (dẫn đạo chúng sanh trên
hành trình giải thoát), giác hạnh viên mãn (khéo xây dựng
ngôi nhà Giáo Pháp) cho thế gian ân triêm lợi lạc. Các bậc
độc giác và thinh văn giác không thể ngang bằng được đối với
ba đặc điểm nầy. Đây là một trong những ý nghĩa của chữ Như
Lai: khi đạt đến quả vị tối tôn thì hoàn toàn không có sự
khác biệt về tuệ giác và khả năng hoằng hoá bởi vì các ngài
có tròn đủ mười Như Lai Lực.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |