BÀI HỌC HẰNG NGÀY

Thứ Sáu, ngày 16, tháng 12, 2022

MÔN HỌC THẮNG PHÁP PHỔ THÔNG
THẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMA SANGAHA)

Bài 37. Nhóm Thuộc Tánh Tịnh Hảo (sobhanacetasikā)- Thuộc Tánh Tín (Saddhācetasika)

IV.(1) Saddhā, (2) sati, (3) hiri, (4) ottappaṁ, (5) alobho, (6) adoso, (7) tatramajjhattatā, (8) kāyapassaddhi, (9) cittapassaddhi, (10) kāyalahutā, (11) cittalahutā, (12) kāyamudutā, (13) cittamudutā, (14) kāyakammaññatā, (15) cittakammaññatā, (16) kāyapāguññatā, (17) cittapāguññatā, (18) kāyujjukatā, (19) cittujjukatā cā ti ekūnavīsat’ime cetasikā sobhanasādhāraṇā nāma.

19 thuộc tánh gọi là tịnh hảo biến hành gồm có: Tín, niệm, tàm, quý, vô tham, vô sân, quân bình, tịnh tánh, tịnh tâm, khinh tánh, khinh tâm, nhu tánh, nhu tâm, thích tánh, thích tâm, thuần tánh, thuần tâm, chánh tâm, chánh tánh.

saddhā = tín
sati = niệm
hiri = tàm
ottappaṁ = quý
alobho = vô tham
adoso = vô sân
tatramajjhattatā = quân bình
kāyapassaddhi = tĩnh tánh
cittapassaddhi = tình tâm
kāyalahutā = khinh tánh
cittalahutā = khinh tâm
kāyamudutā = nhu tánh
cittamudutā =nhu tâm
kāyakammaññatā = thích tánh
cittakammaññatā = thích tâm
kāyapāguññatā = thuần tánh
cittapāguññatā = thuần tâm
kāyujjukatā = chánh tánh
cittujjukatā = chánh tâm
ekūnavīsati = 19
cetasikā sobhanasādhāraṇā = thuộc tánh tịnh hảo biến hành

Chú thích

TỔNG QUAN

Trong những nhóm thuộc tánh, nhóm thuộc tánh tịnh hảo biến hành dễ tạo nên nhiều ngộ nhận. Cần phân biệt rõ đây là những thuộc tánh chứ không phải là trạng thái tâm hay sở hành.

Tịnh hảo  - sobhana- trong Thắng Pháp nghĩa là tốt bao gồm tốt nhưng chưa hẳn đủ để gọi là thiện; mà tốt cũng có thể là vượt trên cả cái thiện. Nói cách khác cái tốt ở đây có thể là trạng thái của một người đang làm việc với sự khéo léo của tay nghề; hay một người hảo tâm giúp đở những kẻ đau khổ; cũng có thể là cái tốt trong tâm tư một vị A la hán đã vượt khỏi thiện ác của nhân sinh. Như vậy phải hiểu tịnh hảo là cái tốt phổ quát chứ không là cái thiện thường được hiểu theo lý giải thông thường.

Thuật ngữ sobhana được Ngài Tịnh Sự dịch là Tịnh hảo và Hoà thượng Thích Minh Châu dịch là tịnh quang. Chữ tịnh hảo lấy theo nghĩa; chữ tịnh quang lấy theo ngữ. Đẹp là vì tốt gọi là tịnh hảo. Đẹp vì sáng gọi là tịnh quang. Cả hai từ vựng nầy đều mới trong thuật ngữ Phật học Hán Việt.

Tịnh hảo biến hành có nghĩa là những thuộc tánh có mặt trong tất cả tâm tịnh hảo (tức là những trừ ra 12 tâm bất thiện và 18 tâm vô nhân).

Có bốn nhóm thuộc tánh tịnh hảo: nhóm tịnh hảo biến hành gồm 19 thuộc tánh, nhóm giới phần gồm 3 thuộc tánh, nhóm vô lượng phần gồm 2 thuộc tánh, “nhóm’ tuệ phần chỉ có 1 thuộc tánh.

Từ định nghĩa vĩ mô đến sự biểu hiện nổi trội

Một điểm được nhắc đi nhắc lại nhiều lần khi đề cập đến ý nghĩa các thuộc tánh là cần hiểu theo cách nói vĩ mô. Những trạng thái như tín, niệm, tàm, quý … khi được định nghĩa thường là theo cách nói đại loại nhưng tín là đức tin ở Tam Bảo, nghiệp quả nhưng khi nói tín là thuộc tánh thì đơn thuần là niềm tin có thể ở mức độ phôi thai nhất. Thí dụ trong hạt cải nhỏ đã có những yếu tố quyết định về màu sắc, hương vị, dáng dấp của cây cải sau nầy. Giai đoạn phôi thai đó rất khó tưởng tượng như một công thức bí mật cho đến sau nầy mọi thành cây cải lớn theo thời gian mới phân định rõ. Nên hiểu là những thuộc tánh khi lớn mạnh có thể là những thiện pháp nhưng khi ở giai đoạn phôi thai thì chỉ là những tố chất vi tế.

Có những phối ngẩu vượt ngoài sự tưởng tượng thông thường

Trong cách hiểu bình thường thì tín và niệm, tàm và quý, vô tham và vô sân thường được hiểu rất riêng biệt. Thế nhưng khi là thuộc tánh thì những tố chất nầy lại hoà quyện nhau tạo thành một thứ tâm đẹp. Đây là thách thức lớn cho người quen học Phật qua Kinh Tạng. Cứ lấy thí dụ đã từng đề cập nhiều lần: Màu gốc chỉ có bốn là xanh, vàng, đỏ, trắng. Nhưng lấy những màu nầy pha lại sẽ tạo nên những màu tím, màu cam..v.v.. mà một người không học hội hoạ khó tưởng tượng được.

Cái tốt căn cội khác với cái tốt hành động

Một khía cạnh khác tương đối khó hiểu là sự khác biệt giữa hành động thiện và thuộc tánh tịnh hảo. Hành động là sự biểu lộ hay bộc phát vốn là sự kết hợp của nhiều nhân tố. Còn thuộc tánh chỉ là bản chất căn cội. Thí dụ trong hành động thì sự tu giới, tu định, tu tuệ riêng biệt nhưng khi nhìn từ gốc độ căn cội thì 8 chi đạo có thể pháp sanh cùng lúc trong tâm đạo (…). Không nên hiểu những pháp trong thuộc tánh như tín, niệm, tàm, quý … là những thiện pháp được thể hiện qua thân, khẩu, ý vốn được nói nhiều trong Kinh Tạng.

Nên hiểu với sự phân biệt giữa tâm và thuộc tánh.  Nói đến tâm là là tổng hợp của bốn danh uẩn: thọ, tưởng, hành, thức. Nói đến thuộc tánh thì nói riêng lẻ về thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Giống như nói nồi canh chua khác với me chua. Thuộc tánh tín nên hiểu khác với tín tâm. Không phân định tạo nên sự lầm lẫn mà ngay cả các vị giảng sư cũng thường mắc phải. Thắng pháp nếu hiểu “luông tuồng” dễ sanh ngộ nhận.

Những tố chất làm tốt nội vụ

Một khía cạnh thú vị khác về các thuộc tánh tịnh hảo là có những thuộc tánh đóng “vai trò nội vụ” tức là làm tốt cho các tâm và thuộc tánh đồng sanh. Đó là những thuộc tánh tịnh tánh, tịnh tâm, khinh tánh, khinh tâm, nhu tánh, nhu tâm, thích tánh, thích tâm, thuần tánh, thuần tâm, chánh tánh, chánh tâm. Những thuộc tánh nầy khi đào sâu sẽ cho thấy một khía cạnh rất lợi lạc về bài học của pháp tự nhiên mà ở đây được Thắng Pháp trình bày.

Lưu ý: Chánh văn của nguyên tác chỉ nêu 19 thuộc tánh tịnh hảo biến hành trong một bảng liệt kê rất ngắn gọn như mở đầu bài học. Phần chú thích sẽ đi sâu vào chi tiết nên tương đối dài và được giảng trong nhiều ngày.

Bài học ngày 9.12.2022

Thuộc Tánh Tín (Saddhācetasika)

Thuộc tánh tín (Saddhācetasika) là một trong 19 thuộc tánh tịnh hảo biến hành có nghĩa là có mặt trong tất cả tâm tịnh hảo. Khi nói về hai loại thuộc tánh tợ tha và bất thiện tương đối ít gây ngộ nhận như thuộc tánh tịnh hảo. Bởi vì khi đề cập đến những thuộc tánh nầy chúng ta thường hiểu theo góc nhìn Phật pháp hơn là bản chất tự nhiên và cũng hiểu theo cách nói đại loại hơn là vĩ mô. Để tránh ngộ nhận phần nầy sẽ được đào sâu theo từng một hoặc hai thuộc tánh.

Hiểu chính xác tín là gì

Chữ saddhā được dịch sang Hán Việt là tín. Tín được hiểu lả tin. Vấn đề chỗ nầy chữ “tin” trong tiếng Việt mang nhiều nghĩa và vài nghĩa trong số đó đi ngược với ý nghĩa của chữ saddhā.

Tin hay niềm tin đôi khi có nghĩa là được thuyết phục bởi điều gì đó mà không có lý tính như trong câu “chánh pháp đến để thấy chứ không phải đến để tin”. Saddhā ở đây không mang ý nghĩa như vậy. Trong tiếng Việt chữ “tin” thường được xài thông dụng ít khi rõ ràng như trong Anh ngữ với những chữ faith, belief, confidence, trust, fidelity…. Mặc dù có nhiều cách dịch như đức tin, niềm tin, lòng tin, tín tâm..nhưng tương đối mơ hồ. Phải rất cẩn trọng khi định nghĩa chữ tín theo thuộc tánh tín.

Trong cách nói gần nhất thì tín – Saddhā là “chọn”. Trong nhiều cái để lựa thì chọn cái tốt nhất. Ngài Silananda cũng nói là Saddhà giống như sự quyết đoán (adhimokkha) tịnh hảo nhưng khác với thuộc tánh thắng giải về phương diện công năng như được đề cập trong phần tiếp theo. Trong Kinh Milindapanda Ngài Nagasena dùng thí dụ như một người đứng trước dòng suối phân vân chưa biết có thể băng ngang được hay không chợt thấy có người băng qua. Từ sự quan sát nầy dẫn đến kết luận là mình có thể băng qua được. Quyết định đó là tín.

Tín theo cách hiểu vĩ mô

Trong cách nói vĩ mô thì khi đề cập đến mỗi thuộc tánh thường nói đến bốn phương diện: đặc tính, chức năng, biểu hiện, và điều kiện. Chức năng của thuộc tánh tín là xoá tan đi những mù mờ, chập chờn được thí dụ như ngày nay những người đi rừng mang theo các viên thuốc lọc nước (water purifier pill). Khi múc nước suối, nước hồ vào bình người ta cho một viên thuốc lọc vào. Viên thuốc khiến nước trong và an toàn để uống. Công năng của tín cũng như vậy. Sự chọn lấy một cái gì đó thì xua tan những lao xao.

Tín theo cách nói đại loại

Trong lúc tín theo cách nói vĩ mô không thể là đức tin mù quáng thì theo cách nói đại loại tín có thể là niềm tin dựa trên một cơ sở vững vàng hay thiếu cơ sở. Theo cách nói đại loại từ niềm tin đối với bản thân (tự tin) đến đạo giáo (tín ngưỡng) hay mơ hồ (mê tín) đều nằm trong tín. Sự khác biệt giữa hai cách nói là tín theo vĩ mô phải mang tính cách lựa chọn thí dụ như câu kinh “Phật là nơi nương nhờ tối thượng” trong lúc theo cách nói đại loại thì không hẳn như vậy thí dụ sự cả tin cũng là tin.

Vai trò của tín trong các tâm tịnh hảo

Một đặc tính của các tâm tịnh hảo là sự ổn định danh pháp. Nói theo ngôn ngữ thường thức là sự trật tự, ổn định. Vai trò của thuộc tánh tín là làm cho các danh pháp đồng sanh không bị lao xao bởi thiếu quyết đoán giống như kết quả sau cùng của cuộc bầu cử là chấm dứt tranh cử đưa xã hội trở về sự bình thường trước đó. Phải hiểu rõ điều nầy mới thấy tại sao ngay cả một người không có tín tâm ở Tam Bảo, nghiệp báo.. vẫn có thuộc tánh tín trong đời sống hằng ngày. (Đa số các giáo trình Thắng Pháp đều định nghĩa thuộc tánh tín trong cách nói đại loại có thể tạo ngộ nhận)

Lưu ý: Chánh văn của nguyên tác chỉ nêu 19 thuộc tánh tịnh hảo biến hành trong một bảng liệt kê rất ngắn gọn như mở đầu bài học. Phần chú thích sẽ đi sâu vào chi tiết nên tương đối dài và được giảng trong nhiều ngày.

Bài học ngày 16.12.2022

Thuộc Tánh Niệm (Saticetasika) 

Thuộc tánh Niệm (Saticetasika) là một trong 19 thuộc tánh tịnh hảo biến hành có nghĩa là có mặt trong tất cả tâm tịnh hảo. Đây là một thuật ngữ phổ thông trong Phật học cũng như thường thức. Và cũng là một trong những thuật ngữ được sử dụng với nhiều ý nghĩa đôi khi trái chống nhau. Niệm (sati) là một từ vựng được dùng rất nhiều trong kinh điển. Nên phân rõ cách hiểu khác biệt giữa thường thức và Phật học. Ngay trong Phật pháp cũng cần phân rõ ý nghĩa của niệm giữa pháp học và pháp hành. Trong bài học nầy thuộc tánh niệm cần hiểu theo cách nói vĩ mô chứ không phải là cách nói đại loại.

Hiểu chính xác niệm là gì?

Muốn hiểu chính xác ý nghĩa của chữ niệm trước nhất cần tạm thời bỏ đi tất cả những gì vốn thường được hiểu một cách quen thuộc về chữ nầy.

Niệm ở đây không phải là liên tục lẩm nhẩm một danh hiệu Phật hay câu thần chú nào đó.

Niệm ở đây không phải là sự ghi nhớ như tâm niệm hay “ghi nhớ biết mình’

Niệm ở đây không phải là sự theo dõi cái gì đó.

Mặc dù những điều vừa nói đều “có khả năng huân tập niệm lực, và niệm cũng là trọng điểm để tu tập những điều đó”.

Niệm theo cách hiểu vĩ mô

Mặc dù trong Phạn ngữ sati có nghĩa là ghi nhớ nhưng khi nói về thuộc tánh có nghĩa là “có mặt với hiện tại” (một cách thú vị, về ý nghĩa nầy lại gần với cách giải chiết tự của chữ Hán). Đó là trạng thái tỉnh táo, để tâm vào cảnh hiện tại để tâm không giao động. Nhờ chất liệu nầy tạo nên ấn tượng sâu đậm, rồi từ đó, sanh ra trí nhớ. Như vậy trong cách nói vĩ mô niệm là nhân tố tiên khởi của trí nhớ chứ không phải là trí nhớ.

Thuộc tánh niệm trong tâm tịnh hảo có thể hiểu như cái neo của thuyền được thả xuống để không bị trôi giạt. Thuộc tánh niệm có chức năng là khiến các danh pháp đồng sanh không bềnh bồng giao động mà có mặt với hiện tại. Hay cũng có thể thí dụ thuộc tánh niệm giống như vị chủ toạ trong phiên họp có bổn phận làm cho buổi hội thảo không đi lạc đề hay làm hỏng nghị trình đã quy định.

Niệm theo cách nói đại loại

Sự bám sát với thực tại khiến niệm trở nên quan trọng trong pháp tu tứ niệm  và các pháp tuỳ niệm (anusati). Nên lưu ý là trên phương diện thực hành niệm được hướng dẫn với nhiều cách khác nhau. Trong số những cách niệm đôi khi có cách tập trung bền bĩ trên một đề mục thì là cách tu tập định hơn là niệm. Trong phạm vi bài học về thuộc tánh niệm nên chú tâm vào cách hiểu vĩ mô hơn là cách nói đại loại. Một thí dụ là trong khi hành thiền nếu để tâm suy nghĩ về việc chuẩn bị cơm trưa cho các thiền sinh thì được xem là “thất niệm” nhưng nói theo Thắng Pháp thì thiện tâm nào cũng có thuộc tánh niệm.

Trong Kinh Tạng có nói về tà niệm đối lập với chánh niệm. Trong Thắng Pháp Tạng thuộc tánh niệm chỉ có mặt trong các tâm tịnh hảo. Chỉ riêng với điều nầy cho thấy ý nghĩa của niệm cần được hiểu rõ theo ngữ cảnh và cách dùng. Đây là điểm đặc biệt tế nhị mà người học không thể không lưu tâm.

Tỳ kheo Giác Đẳng

@@@@@
I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE

-   Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)

-      Hi-Fi là từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm thanh gốc.

-      Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm thanh cùng lúc’

     Minh hoạ về Multichannel

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Multichannel.png

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:

-   TT Giác Đẳng với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước. (Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc tính năng nầy).

-   Các MC có thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.

-   Ví dụ: TT Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ động bật micro mà không cần chờ MC ‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không or phải cho biết tín hiệu’.

-   Các MC là “admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm micro thì dùng chức năng (hạn chế or bỏ qua thành viên).