BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, 19 tháng 12, 2022

MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN

PHẦN II-PHẬT PHÁP

Bài 33. NGHIỆP BÁO-THIỆN ÁC THEO NGHIỆP BÁO

I.TỔNG QUAN

Tất cả Phật Pháp dù với đề tài nào, nội dung nào cũng liên kết với nhau và là một phần của tổng thể. Tất cả đều chỉ vào sự thật và có cùng mục đích giải thoát khổ đau. Những pháp được đề cập trong kinh điển có thể mang nhiều tên gọi và đề cập những điểm khác biệt nhưng do được nói từ nhiều góc nhìn và cho những mục đích riêng. Chính vì điểm nầy có những đề tài là một phần của chủ đề lớn hơn hoặc giả mang tính đặc thù cần đơn cử.

Giáo lý duyên khởi  (paṭiccasamuppāda) minh hoạ toàn bộ sự hiện hữu của chúng sanh và bao phủ nhiều lãnh vực của Phập pháp nên có Phật ngôn: Ai thấy duyên khởi là thấy Pháp (M. I. 190-91). Phần lớn các học giả nhận rằng giáo lý duyên khởi quá sâu xa tế nhị. Rất khó để lãnh hội toàn bộ. Nên không có một bài kinh nào trình bày tất cả những khía cạnh của duyên khởi.

Có lẽ trong những trình bày liên hệ tới duyên khởi thì nghiệp báo là phần thường được giảng giải rộng rãi. Có hai lý do: thứ nhất, nghiệp báo thường được ưa thích được lắng nghe bởi đa số quần chúng, và thứ hai, là hiểu được nghiệp báo là có được nhịp cầu để hiểu duyên khởi. Quả thật nếu hiểu nghiệp báo thì sự tìm hiểu duyên khởi dễ dàng hơn. Trong tam luân (vaṭṭa)  của duyên khởi thì nghiệp báo bao gồm hai phần: nghiệp luân và quả luân. 

Giáo lý duyên khởi tập chú vào hiện tượng tự nhiên của của sống trong cái nhìn tổng thể chứ không đơn cử một khía cạnh riêng lẻ. Chính vì điểm nầy giáo lý nghiệp báo mang ý nghĩa thực dụng cho cuộc sống hằng ngày vì đề cập đến cái gì nên làm hay không nên làm hằng ngày và trách nhiệm của mỗi người đối với sự hiện hữu. Có thể nói về phương diện nầy nghiệp báo là đề tài quan trọng nhất trong duyên khởi mà những để tài khác mang tính bổ trợ.

Dựa trên những điều đề cập trên thì duyên khởi là sự trình bày sâu rộng của nghiệp báo. Và ngược lại, nghiệp báo là sự trình bày thực dụng của duyên khởi. Điều nầy được Đức Phật dạy: “Bậc trí hiểu duyên khởi, thiện xảo trong nghiệp và quả của nghiệp, nhận rõ sở hành theo sự thật”. (M. II. 196; Sn. 123).

Bài học ngày 5.12.2022

NHỮNG HIỂU BIẾT CĂN BẢN VỀ NGHIỆP

Nghiệp là một danh từ phổ thông mang nhiều ý nghĩa dị biệt tuỳ theo chỗ dùng và cách dùng. Ngay cả với người Phật tử thuật ngữ nghiệp  (kamma) thường khi hiểu không chính xác theo Phật học. Một thí dụ điển hình là chữ nghiệp thường được hiểu mà “nghiệp xấu” như trong câu nói “làm việc đó sẽ mang nghiệp” hay một câu trong Truyện Kiều “đã mang lấy nghiệp vào thân”. Những cách dùng như vậy rất phiến diện theo Phật học.

Ý nghĩa tinh xác nhất của nghiệp là chủ tâm tạo tác hay “tư – cetanā’. Thuộc tánh “tư – cetanā’ nằm trong hành uẩn, là một trong 52 thuộc tánh của tâm thức được Đức Phật dạy chính là nghiệp. Tư ở đây mang nghĩa chủ trương tạo tác. Giống như trong một hãng xưởng có nhiều nhân sự như vị giám đốc điều hành (CEO) là người chịu trách nhiệm cho đường hướng hoạt động.

Trong ý nghĩa phổ quát thì nghiệp là sở hành qua thân, ngữ, ý. Đây là những biểu lộ của nghiệp. Đôi khi cũng được gọi là hành  (saṅkhāra) hay hữu (bhava) nhưng trong duyên khời. Những từ thuật ngữ nầy nêu lên “nghiệp đã định hình” qua những hành vi như lời nói, hành động, ý  nghĩ ...v..v..

Mặc dù nghiệp lực có cả hai biệt nghiệp và cộng nghiệp nhưng trong Phật Pháp thường nhấn mạnh nghiệp là sở hành của mỗi chúng sanh ngay cả trong sự kết hợp với chúng sanh khác. Đây là điểm rất tế nhị trong sự khác biệt trong cách dùng giữa Phật Pháp và thường thức. Người đời thường nghĩ tới nghiệp lực như sự đưa đẩy đối với vận mệnh chung của một dân tộc, một đất nước, một thời đại mà gần như cá nhân không làm gì khác hơn được. Trong lúc theo Phật học thì nghiệp báo thường được đề cập như nhân quả của mỗi cá nhân mà mỗi chúng sanh phải chịu trách nhiệm và có thể thay đổi qua hành động tích cực.

Định luật về nghiệp là một trong năm định luật của vũ trụ do đó không nên hiểu tất cả đều do nghiệp. Năm định luật là: 1. Định lý về Utu (utu-niyāma) chỉ chung cho năng lượng, nhiệt lượng, vật lý, thời tiết. 2. Định lý về chủng tử (bīja-niyāma) là sự truyền chủng, tái tạo, giống nào tạo loại đó.  3. Định lý về tâm (citta-niyāma) là định lực cố nhiên của tâm thức như về tiềm thức, hoạt thức, thứ lớp sanh diệt của các thứ tâm trong một diễn trình tâm. 4. Định lý về nghiệp (kamma-niyāma)  là sự tương quan nhân quả giữa hành động tạo tác và quả nghiệp. 5. Định lý về pháp tánh (dhamma-niyāma) là nguyên tắc chung của vạn hữu thí dụ sự sanh diệt là bản chất của tất cả pháp hữu vi.

Trong văn hoá Tây Phương ngày nay chữ karma (viết theo Sanskrit) mang ý nghĩa là sự tạo tác trong đời quá khứ. Ý nghĩa nầy rất hẹp theo Phật học. Mặc dù được dùng phổ thông, đặc biệt là trong khoa bói toán, nhưng không nên nhầm lẫn với ý nghĩa chữ nghiệp trong Phật Pháp. Cũng nên nói thêm là trong văn hoá Ấn Độ - nơi khởi nguồn của dòng lịch sử Đạo Phật - chữ nghiệp được dùng hết sức phổ thông. Có những khác biệt lớn lao giữa cái hiểu về nghiệp giữa Phật Pháp và Ba la môn giáo mà người học Phật cần lưu tâm.

Bài học ngày 12.12.2022

CÁC LOẠI NGHIỆP

Nghiệp được phân loại với nhiều bảng liệt kê trong Tam Tạng kinh điển. Ba phạm trù sau đây có thể được xem là thường thấy và là căn bản để hiểu về nghiệp theo Phật Pháp. Những phân loại nầy dù tương đối dễ hiểu trên phương diện văn tự nhưng mang nhiều ý nghĩa tế nhị cần được đào sâu.

Nghiệp chia theo căn cội (hetu)

Căn cội hay nhân là chữ dịch của thuật ngữ hetu. Có tất cả sáu nhân là tham (lobha), sân (dosa), si (moha), vô tham (alobha), vô sân (adosa), vô si (amoha). Ba nhân đầu là tham, sân, si thuộc về nhóm bất thiện. Ba nhân sau là vô tham, vô sân, vô si thuộc về nhóm thiện. Ba nhân thiện không phải chỉ đơn giản là không tham, không sân, không si  mà còn mang ý nghĩa đối ngược xa hơn: vô tham là trạng thái không vướng mắc, vô sân là trạng thái hoà dịu mát mẽ, vô si là trí tuệ sáng suốt.

Không có sự tạo tác hay nghiệp nào nằm ngoài căn cội bất thiện hay thiện. Nói cách khác đã là nghiệp thì chỉ có thể là bất thiện hay là thiện chứ không thể nằm ngoài hai trạng thái nầy. Nghiệp theo Phật Pháp không có trung tính trên phương diện căn cội.

Sự khéo léo hay thiện xảo trong tạo tác được xem là do căn cội. Những thể hiện nào bắt nguồn từ tham, sân, si đều là vụng về được xem là ô nhiễm. Trái lại những hành động nào bắt nguồi từ vô tham, vô sân, vô si là thiện xảo hay được xem là trong sạch.

Nghiệp chia theo cửa ngõ (dvāra)

Có ba cửa thể hiện sở hành của chúng sanh là thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp. Thân nghiệp  (kāyakamma) là hành động của thân như sát sanh, trộm cắp … Ngữ nghiệp (vacīkamma) là nghiệp thể hiện qua ngôn từ như nói dối, nói chia rẽ … Ý nghiệp (manokamma) là nghiệp thể hiện qua tư duy như tham ác, sân ác, tà kiến ...

Khi phân chia nghiệp theo thân, ngữ, ý thì dễ dàng để nói về bất thiện nghiệp (ba nghiệp bất thiện thuộc thân, bốn nghiệp bất thiện thuộc ngữ, ba nghiệp bất thiện thuộc ý). Nhưng khi nói về thiện nghiệp thì thường là kết hợp cả ba như bố thí, trì giới … Mặc dù thập thiện và thập ác là hai bảng liệt kê theo thân, ngữ, ý nhưng trên phương diện thiện nghiệp thì không nói hết (…)

Chữ khẩu nghiệp ở đây dịch là ngữ nghiệp vì đôi khi sự ăn uống được xem là nghiệp qua cửa miệng nhưng đó thuộc về thân. Trong lúc sự biểu đạt qua ngôn từ như viết lách, email, tin nhắn ngày nay không dùng miệng nói nhưng nên hiểu là tạo tác qua ngôn từ nên dịch là ngữ nghiệp. Chữ vacī trong Phạn ngữ là lời nói.

Trong ba nghiệp vừa kể thì ý nghiệp tạo quả nặng nhất. Trong ý nghiệp thì tà kiến được xem là xấu nhất và mang lại nhiều bất hạnh nhất.

Nghiệp chia theo quả báo (vipāka)

Sự tương quan giữa nhân và quả là một phạm trù cần được hiểu khác hơn với sự phân chia theo căn cội. Ở đây có bốn thứ nghiệp được nói đến:

a.    Nghiệp đen kết quả đen. Như hành động sát sanh tạo nên quả chết yểu.

b.    Nghiệp trắng kết quả trắng. Như hành động cung kính bậc đáng tạo quả cao sang.

c.     Nghiệp trắng lẫn đen tạo quả đen lẫn trắng. Là hành động mang cả hai bản chất thiện và bất thiện như một người bố thí trong đó có tính cạnh tranh để người khác không làm được như mình. Đa số sở hành của con người thuộc loại nghiệp nầy.

d.    Nghiệp không trắng không đen kết quả không đen không trắng. Đây là nghiệp đoạn nghiệp. Nói cách khác là sự tu tập dẫn đến vượt thoát nghiệp lực như tu thất giác chi hay bát chánh đạo.

Sự phân chia nghiệp theo phạm trù nầy có khác với phạm trù đầu tiên ở điểm là nói về hiện tượng hơn là bản chất. Nói về bản chất thì thiện và bất thiện không thể pha trộn. Nói về về hiện tượng thì có sự hỗn hợp.

Khái niệm về thứ nghiệp “không trắng không đen kết quả không đen không trắng” thường ít khi được hiểu chính xác, ngay cả đối với người Phật tử, vì người ta thường nghĩ là trong sự tu tập “công phu tạo nên công đức” mà công đức tương đồng với phước báu. Mặc dù Phật pháp có nói đến “phước vô lậu” nhưng cứu cánh giải thoát là vượt lên trên thiện ác, nghiệp quả.

Bài học ngày 19.12.2022

THIỆN ÁC THEO NGHIỆP BÁO

Nói đến nghiệp báo là nói đến thiện ác. Không thể hiểu nghiệp báo nếu không phân định rõ ràng về thiện ác. Có khái niệm khác gắn liền với thiện ác nhưng khiến cho đề tài nầy phức tạp và tạo nhiều tranh luận đó là khái niệm tốt xấu. Nói theo cách đơn giản cái gì thiện là tốt, ác là xấu. Thực tế thì thiện ác và tốt xấu không phải luôn gắn liền mà thường khi phải phân biệt rõ dựa trên nhiều khía cạnh. Có thể làm rõ điều nầy qua một số thí dụ nhưng món ăn ngon không hẳn là món ăn tốt cho cơ thể; hoặc một người trung quân không nhất thiết là ái quốc; hay một học trò giỏi không nhất thiết là học trò ngoan.

Nghiệp tốt đúng nghĩa là nghiệp hiền thiện. Theo Tam Tạng thì có bốn yếu tố để lượng định một tạo tác có phải là nghiệp lành hay không:

a.    Ārogya (lành mạnh) chỉ cho trạng thái tâm không chi phối bởi phiền não, hay nói theo Thắng Pháp, là không đi với thuộc tánh bất thiện (akusala cetasika).

b.    Anavajja (vô tội, vô hại) là đặc tính không mang lại tai hại cho bản thân và tha nhân.

c.     Kosalla sambhūta (sáng suốt) là hành động có hiểu biết; đúng với sự thật; có chánh tư niệm (yoniso manasikāra).

d.    Sukha vipāka (tạo quả an lạc) là chất liệu an lạc, nhẹ nhàng, hoan hỷ trong hiện tại và quả dị thục tốt đẹp mai sau.

Nghiệp lành đi chung với chất liệu hiền thiện hay tâm thái tốt. Trong lúc nhiều hành động được đánh giá bởi người khác thì có phương diện chỉ có thể tự bản thân nhận ra được đó là trạng thái tâm. Kinh điển nêu ra rất nhiều tâm thái hiền thiện nhưng theo Ngài Payutto có thể tóm tắt theo năm nhóm sau:

a.    Vững chãi. Là sự không giao động, tán loạn, dễ bị chi phối.

b.    Thanh tịnh. Là không bị uế nhiễm, vẫn đục bởi phiền não

c.     Thảnh thơi. Là không bị cột trói, vây bủa, bức bách

d.    Nhu nhuyến. Là dễ dàng sử dụng

e.     An tịnh. Là không khủng hoảng, không bất an, không sầu muộn.

Nghiệp thiện và bất thiện có thể quyện lấy nhau. Nghiệp thiện và bất thiện có khi pha trộn trở nên khó phân biệt. Ăn năn vì phạm giới hay lo lắng việc đã làm có tạo nghiệp xấu hay không đó là vài thí dụ cụ thể. Quan tâm đến giới hạnh hay nghiệp báo đó là điều tốt thế nhưng sự cắn rứt lo âu không phải là điều thiện. Sự hỗn hợp nầy là cái gì rất thường xẩy ra trong thực tế của cuộc sống.

Thiện ác và thanh tịnh, uế nhiễm là một phương diện khác phải cân nhắc. Một hành động thiện có thể tạo bốn hiệu ứng:

a.    Tự tâm an lạc hay hưởng thụ quá trình tức là niềm hoan hỷ khi đang làm.

b.    Quả dị thục tốt là quả của của nghiệp lành như giàu có là quả phước của bố thí ..v.v..

c.     Thành tựu ý nguyện như một người muốn trở thành chuyển luân đại đế tạo phước và phát nguyện cuối cùng thành tựu.

d.    Đưa đến chứng đắc thánh quả

Những hiệu ứng trên đều tốt nhưng cũng có thể bị xen lẫn bởi ngã chấp, ham muốn, và vướng mắc. Những trạng thái nầy là ô nhiễm khó thấy chỉ có sự tu tập, hiểu biết Phật pháp mới vượt khỏi.

Tốt xấu theo phạm trù. Nói đến tốt xấu thì theo Phật học tất cả nghiệp đều có vô minh và khát ái làm động lực tế nhị phía sau. Nói đến phúc nghiệp thì có phước hữu lậu (opadhikapuñña) và phước vô lậu (anopadhikapuñña hay nirūpadhipuñña). Phước hữu lậu là quả phước trong trầm luân sanh tử như sắc đẹp, giàu sang, quyền quý. Phước lậu trong cách nói trên phương diện giác ngộ giải thoát là hệ luỵ chứ không phải là điều đáng mong cầu.  

Tốt xấu do hướng đi tới. Một trong những phân nghiệp thiện ác là quả báo khổ lạc. Thế nhưng Đức Phật cũng có bốn trường hợp tạo tác:

a.    Hiện tại khổ, tương lai khổ

b.    Hiện tại khổ, tương lai lạc

c.     Hiện tại lạc, tương lai khổ

d.    Hiện tại lạc, tương lai lạc

Chỉ lấy sự an lạc, khổ đau trong hiện tại không đủ đ nói lên tánh chất tốt xấu của nghiệp. Về điểm nầy cần tầm nhìn xa rộng. Tất nhiên đây là một trong những phần vượt tầm nhìn của đa số chúng sanh.

Thiện ác từ cái nhìn khách quan. Mặc dù Phật pháp khuyến khích sự tự thân thể nghiệm những gì gọi là tốt xấu, khổ vui. Thế nhưng sự hạn chế trong hiểu biết cá nhân dễ tạo ra cái nhìn phiến diện. Đức Phật dạy trong nhiều bài kinh là một người hành động nên xét là điều đó “có được bậc trí tán thán hay khiển trách”. Và tất nhiên một lượng định khách quan khác là “đối chiếu với kinh, đối chiếu với luật” hay Tam Tạng Kinh Điển. Tư ý chủ quan có thể tạo nên những sai lầm đáng tiếc.

Bài tiếp theo: Quả Của Nghiệp

Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-