|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 26 tháng 12, 2022
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN II-PHẬT PHÁP
Bài 33. NGHIỆP BÁO-QUẢ CỦA NGHIỆP I.TỔNG QUAN
Tất cả Phật Pháp dù với đề tài nào, nội dung nào cũng liên kết
với nhau và là một phần của tổng thể. Tất cả đều chỉ vào
sự thật và có cùng mục đích giải thoát khổ đau. Những
pháp được đề cập trong kinh điển có thể mang nhiều tên
gọi và đề cập những điểm khác biệt nhưng do được nói từ
nhiều góc nhìn và cho những mục đích riêng. Chính vì
điểm nầy có những đề tài là một phần của chủ đề lớn hơn
hoặc giả mang tính đặc thù cần đơn cử.
Giáo lý duyên khởi (paṭiccasamuppāda)
minh hoạ toàn bộ sự hiện hữu của chúng sanh và bao phủ
nhiều lãnh vực của Phập pháp nên có Phật ngôn: Ai thấy
duyên khởi là thấy Pháp (M. I. 190-91). Phần lớn các học
giả nhận rằng giáo lý duyên khởi quá sâu xa tế nhị. Rất
khó để lãnh hội toàn bộ. Nên không có một bài kinh nào
trình bày tất cả những khía cạnh của duyên khởi.
Có lẽ trong những trình bày liên hệ tới duyên khởi thì nghiệp
báo là phần thường được giảng giải rộng rãi. Có hai lý
do: thứ nhất, nghiệp báo thường được ưa thích được lắng
nghe bởi đa số quần chúng, và thứ hai, là hiểu được
nghiệp báo là có được nhịp cầu để hiểu duyên khởi. Quả
thật nếu hiểu nghiệp báo thì sự tìm hiểu duyên khởi dễ
dàng hơn. Trong tam luân (vaṭṭa)
của duyên khởi thì nghiệp báo bao gồm hai phần:
nghiệp luân và quả luân.
Giáo lý duyên khởi tập chú vào hiện tượng tự nhiên của của
sống trong cái nhìn tổng thể chứ không đơn cử một khía
cạnh riêng lẻ. Chính vì điểm nầy giáo lý nghiệp báo mang
ý nghĩa thực dụng cho cuộc sống hằng ngày vì đề cập đến
cái gì nên làm hay không nên làm hằng ngày và trách
nhiệm của mỗi người đối với sự hiện hữu. Có thể nói về
phương diện nầy nghiệp báo là đề tài quan trọng nhất
trong duyên khởi mà những để tài khác mang tính bổ trợ.
Dựa trên những điều đề cập trên thì duyên khởi là sự trình bày
sâu rộng của nghiệp báo. Và ngược lại, nghiệp báo là sự
trình bày thực dụng của duyên khởi. Điều nầy được Đức
Phật dạy: “Bậc trí hiểu duyên khởi, thiện xảo trong
nghiệp và quả của nghiệp, nhận rõ sở hành theo sự thật”.
(M. II. 196; Sn. 123).
Bài học ngày 5.12.2022
NHỮNG
HIỂU BIẾT CĂN BẢN VỀ NGHIỆP
Nghiệp là một danh từ phổ thông mang nhiều ý
nghĩa dị biệt tuỳ theo chỗ dùng và cách dùng.
Ngay cả với người Phật tử thuật ngữ nghiệp
(kamma) thường khi hiểu không chính xác theo Phật
học. Một thí dụ điển hình là chữ nghiệp thường được hiểu
mà “nghiệp xấu” như trong câu nói “làm việc đó sẽ mang
nghiệp” hay một câu trong Truyện Kiều “đã mang lấy
nghiệp vào thân”. Những cách dùng như vậy rất phiến diện
theo Phật học.
Ý nghĩa tinh xác nhất của nghiệp là chủ tâm tạo
tác hay “tư – cetanā’. Thuộc tánh “tư – cetanā’ nằm trong hành uẩn, là một trong 52 thuộc tánh
của tâm thức được Đức Phật dạy chính là nghiệp. Tư ở đây
mang nghĩa chủ trương tạo tác. Giống như trong một hãng
xưởng có nhiều nhân sự như vị giám đốc điều hành (CEO)
là người chịu trách nhiệm cho đường hướng hoạt động.
Trong ý nghĩa phổ quát thì nghiệp là sở hành qua
thân, ngữ, ý. Đây là những biểu lộ của nghiệp. Đôi khi cũng được gọi là hành
(saṅkhāra) hay
hữu (bhava) nhưng trong duyên khời. Những từ thuật ngữ
nầy nêu lên “nghiệp đã định hình” qua những hành vi như
lời nói, hành động, ý
nghĩ ...v..v..
Mặc dù nghiệp lực có cả hai biệt nghiệp và cộng
nghiệp nhưng trong Phật Pháp thường nhấn mạnh nghiệp là
sở hành của mỗi chúng sanh ngay cả trong sự kết hợp với
chúng sanh khác.
Đây là điểm rất tế nhị trong sự khác biệt trong cách
dùng giữa Phật Pháp và thường thức. Người đời thường
nghĩ tới nghiệp lực như sự đưa đẩy đối với vận mệnh
chung của một dân tộc, một đất nước, một thời đại mà gần
như cá nhân không làm gì khác hơn được. Trong lúc theo
Phật học thì nghiệp báo thường được đề cập như nhân quả
của mỗi cá nhân mà mỗi chúng sanh phải chịu trách nhiệm
và có thể thay đổi qua hành động tích cực.
Định luật về nghiệp là một trong năm định luật
của vũ trụ do đó không nên hiểu tất cả đều do nghiệp.
Năm định luật là: 1. Định lý về Utu (utu-niyāma) chỉ
chung cho năng lượng, nhiệt lượng, vật lý, thời tiết. 2.
Định lý về chủng tử (bīja-niyāma) là sự truyền chủng,
tái tạo, giống nào tạo loại đó.
3. Định lý về tâm
(citta-niyāma) là định lực cố nhiên của tâm thức như về
tiềm thức, hoạt thức, thứ lớp sanh diệt của các thứ tâm
trong một diễn trình tâm. 4. Định lý về nghiệp
(kamma-niyāma)
là sự tương quan nhân quả giữa hành động tạo tác
và quả nghiệp. 5. Định lý về pháp tánh (dhamma-niyāma)
là nguyên tắc chung của vạn hữu thí dụ sự sanh diệt là
bản chất của tất cả pháp hữu vi.
Trong văn hoá Tây Phương ngày nay chữ karma
(viết theo Sanskrit) mang ý nghĩa là sự tạo tác trong
đời quá khứ.
Ý nghĩa nầy rất hẹp theo Phật học. Mặc dù được dùng phổ
thông, đặc biệt là trong khoa bói toán, nhưng không nên
nhầm lẫn với ý nghĩa chữ nghiệp trong Phật Pháp. Cũng
nên nói thêm là trong văn hoá Ấn Độ - nơi khởi nguồn của
dòng lịch sử Đạo Phật - chữ nghiệp được dùng hết sức phổ
thông. Có những khác biệt lớn lao giữa cái hiểu về
nghiệp giữa Phật Pháp và Ba la môn giáo mà người học
Phật cần lưu tâm.
Bài
học ngày
12.12.2022
CÁC
LOẠI NGHIỆP
Nghiệp được phân loại với nhiều bảng liệt kê trong
Tam Tạng kinh điển. Ba phạm trù sau đây có thể được
xem là thường thấy và là căn bản để hiểu về nghiệp
theo Phật Pháp. Những phân loại nầy dù tương đối dễ
hiểu trên phương diện văn tự nhưng mang nhiều ý
nghĩa tế nhị cần được đào sâu.
Nghiệp chia theo căn cội (hetu)
Căn
cội hay nhân là chữ
dịch của thuật ngữ hetu. Có tất cả sáu nhân
là tham (lobha), sân (dosa), si (moha), vô tham
(alobha), vô sân (adosa), vô si (amoha). Ba nhân đầu
là tham, sân, si thuộc về nhóm bất thiện. Ba nhân
sau là vô tham, vô sân, vô si thuộc về nhóm thiện.
Ba nhân thiện không phải chỉ đơn giản là không tham,
không sân, không si
mà còn mang ý nghĩa đối ngược xa hơn: vô tham
là trạng thái không vướng mắc, vô sân là trạng thái
hoà dịu mát mẽ, vô si là trí tuệ sáng suốt.
Không có sự tạo tác hay nghiệp nào nằm ngoài căn cội
bất thiện hay thiện. Nói cách khác đã là nghiệp thì
chỉ có thể là bất thiện hay là thiện chứ không thể
nằm ngoài hai trạng thái nầy. Nghiệp theo Phật Pháp
không có trung tính trên phương diện căn cội.
Sự
khéo léo hay thiện xảo trong tạo tác được xem là do
căn cội. Những thể hiện nào bắt nguồn từ tham, sân,
si đều là vụng về được xem là ô nhiễm. Trái lại
những hành động nào bắt nguồi từ vô tham, vô sân, vô
si là thiện xảo hay được xem là trong sạch.
Nghiệp chia theo cửa ngõ (dvāra)
Có
ba cửa thể hiện sở hành của chúng sanh là thân
nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp. Thân nghiệp
(kāyakamma) là hành động của thân như sát
sanh, trộm cắp … Ngữ nghiệp (vacīkamma) là nghiệp thể hiện qua ngôn từ như nói dối, nói
chia rẽ … Ý nghiệp
(manokamma)
là nghiệp thể hiện qua tư duy như tham ác, sân ác,
tà kiến ...
Khi phân chia nghiệp theo thân, ngữ, ý thì dễ dàng
để nói về bất thiện nghiệp (ba
nghiệp bất thiện
thuộc thân, bốn
nghiệp bất thiện thuộc ngữ, ba nghiệp bất
thiện thuộc ý). Nhưng khi nói về thiện nghiệp thì
thường là kết hợp cả ba như bố thí, trì giới
… Mặc dù thập thiện và thập ác là hai bảng liệt kê
theo thân, ngữ, ý nhưng trên phương diện thiện
nghiệp thì không nói hết (…)
Chữ
khẩu nghiệp ở đây dịch là ngữ nghiệp vì đôi khi sự
ăn uống được xem là nghiệp qua cửa miệng nhưng đó
thuộc về thân. Trong lúc sự biểu đạt qua ngôn từ như
viết lách, email, tin nhắn ngày nay không dùng miệng
nói nhưng nên hiểu là tạo tác qua ngôn từ nên dịch
là ngữ nghiệp. Chữ vacī trong Phạn ngữ là lời nói.
Trong ba nghiệp vừa kể thì ý nghiệp tạo quả nặng
nhất. Trong ý nghiệp thì tà kiến được xem là xấu
nhất và mang lại nhiều bất hạnh nhất.
Nghiệp chia theo quả báo (vipāka)
Sự
tương quan giữa nhân và quả là một phạm trù cần được
hiểu khác hơn với sự phân chia theo căn cội. Ở đây
có bốn thứ nghiệp được nói đến:
a.
Nghiệp đen kết quả đen. Như hành động sát sanh tạo
nên quả chết yểu.
b.
Nghiệp trắng kết quả trắng. Như hành động cung kính
bậc đáng tạo quả cao sang.
c.
Nghiệp trắng lẫn đen tạo quả đen lẫn trắng. Là hành
động mang cả hai bản chất thiện và bất thiện như một
người bố thí trong đó có tính cạnh tranh để người
khác không làm được như mình. Đa số sở hành của con
người thuộc loại nghiệp nầy.
d.
Nghiệp không trắng không đen kết quả không đen không
trắng. Đây là
nghiệp đoạn nghiệp. Nói cách khác là sự tu
tập dẫn đến vượt thoát nghiệp lực như tu thất giác
chi hay bát chánh đạo.
Sự
phân chia nghiệp theo phạm trù nầy có khác với phạm
trù đầu tiên ở điểm là nói về hiện tượng hơn là bản
chất. Nói về bản chất thì thiện và bất thiện không
thể pha trộn. Nói về về hiện tượng thì có sự hỗn
hợp.
Khái
niệm về thứ nghiệp “không trắng không đen kết quả
không đen không trắng” thường ít khi được hiểu chính
xác, ngay cả đối với người Phật tử, vì người ta
thường nghĩ là trong sự tu tập “công phu tạo nên
công đức” mà công đức tương đồng với phước báu. Mặc
dù Phật pháp có nói đến “phước vô lậu” nhưng cứu
cánh giải thoát là vượt lên trên thiện ác, nghiệp
quả.
Bài học ngày 19.12.2022
THIỆN ÁC THEO NGHIỆP BÁO
Nói đến nghiệp báo là nói đến thiện ác.
Không thể hiểu nghiệp báo nếu không phân định rõ
ràng về thiện ác. Có khái niệm khác gắn liền với
thiện ác nhưng khiến cho đề tài nầy phức tạp và tạo
nhiều tranh luận đó là khái niệm tốt xấu. Nói theo
cách
đơn giản cái gì thiện là tốt, ác là xấu. Thực tế thì
thiện ác và tốt xấu không phải luôn gắn liền mà
thường khi phải phân biệt rõ dựa trên nhiều khía
cạnh. Có thể làm rõ điều nầy qua một số thí dụ nhưng
món ăn ngon không hẳn là món ăn tốt cho cơ thể; hoặc
một người trung quân không nhất thiết là ái quốc;
hay một học trò giỏi không nhất thiết là học trò
ngoan.
Nghiệp tốt đúng nghĩa là nghiệp hiền thiện.
Theo Tam Tạng thì có bốn yếu tố để lượng định một
tạo tác có phải là nghiệp lành hay không:
a.
Ārogya (lành mạnh) chỉ cho trạng thái tâm không chi
phối bởi phiền não, hay nói theo Thắng Pháp, là
không đi với thuộc tánh bất thiện (akusala
cetasika).
b.
Anavajja (vô tội, vô hại) là đặc tính không mang lại
tai hại cho bản thân và tha nhân.
c.
Kosalla sambhūta (sáng suốt) là hành động có hiểu
biết; đúng với sự thật; có chánh tư niệm (yoniso
manasikāra).
d.
Sukha vipāka (tạo quả an lạc) là chất liệu an lạc,
nhẹ nhàng, hoan hỷ trong hiện tại và quả dị thục tốt
đẹp mai sau.
Nghiệp lành đi chung với chất liệu hiền thiện hay
tâm thái tốt.
Trong lúc nhiều hành động được đánh giá bởi người
khác thì có phương diện chỉ có thể tự bản thân nhận
ra được đó là trạng thái tâm. Kinh điển nêu ra rất
nhiều tâm thái hiền thiện nhưng theo Ngài Payutto có
thể tóm tắt theo năm nhóm sau:
a.
Vững chãi. Là sự không giao động, tán loạn, dễ bị
chi phối.
b.
Thanh tịnh. Là không bị uế nhiễm, vẫn đục bởi phiền
não
c.
Thảnh thơi. Là không bị cột trói, vây bủa, bức bách
d.
Nhu nhuyến. Là dễ dàng sử dụng
e.
An tịnh. Là không khủng hoảng, không bất an, không
sầu muộn.
Nghiệp thiện và bất thiện có thể quyện lấy nhau.
Nghiệp thiện và bất thiện có khi pha trộn trở nên
khó phân biệt. Ăn năn vì phạm giới hay lo lắng việc
đã làm có tạo nghiệp xấu hay không đó là vài thí dụ
cụ thể. Quan tâm đến giới hạnh hay nghiệp báo đó là
điều tốt thế nhưng sự cắn rứt lo âu không phải là
điều thiện. Sự hỗn hợp nầy là cái gì rất thường xẩy
ra trong thực tế của cuộc sống.
Thiện ác và thanh tịnh, uế nhiễm là một phương diện
khác phải cân nhắc.
Một hành động thiện có thể tạo bốn hiệu ứng:
a.
Tự tâm an lạc hay hưởng thụ quá trình tức là niềm
hoan hỷ khi đang làm.
b.
Quả dị thục tốt là quả của của nghiệp lành như giàu
có là quả phước của bố thí
..v.v..
c.
Thành tựu ý nguyện như một người muốn trở thành
chuyển luân đại đế tạo phước và phát nguyện cuối
cùng thành tựu.
d.
Đưa đến chứng đắc thánh quả
Những hiệu ứng trên đều tốt nhưng cũng có thể bị xen
lẫn bởi ngã chấp, ham muốn, và vướng mắc. Những
trạng thái nầy là ô nhiễm khó thấy chỉ có sự tu tập,
hiểu biết Phật pháp mới vượt khỏi.
Tốt xấu theo phạm trù.
Nói
đến tốt xấu thì theo Phật học tất cả nghiệp đều có
vô minh và khát ái làm động lực tế nhị phía sau. Nói
đến phúc nghiệp thì có phước hữu lậu (opadhikapuñña)
và phước vô lậu (anopadhikapuñña hay
nirūpadhipuñña). Phước hữu lậu là quả phước trong
trầm luân sanh tử như sắc đẹp, giàu sang, quyền quý.
Phước lậu trong cách nói trên phương diện giác ngộ
giải thoát là hệ luỵ chứ không phải là điều đáng
mong cầu.
Tốt xấu do hướng đi tới.
Một trong những phân nghiệp thiện ác là quả báo khổ
lạc. Thế nhưng Đức Phật cũng có bốn trường hợp tạo
tác:
a.
Hiện tại khổ, tương lai khổ
b.
Hiện tại khổ, tương lai lạc
c.
Hiện tại lạc, tương lai khổ
d.
Hiện tại lạc, tương lai lạc
Chỉ lấy sự an lạc, khổ đau trong hiện tại không đủ để
nói lên tánh chất tốt xấu của nghiệp. Về điểm nầy
cần tầm nhìn xa rộng. Tất nhiên đây là một trong
những phần vượt tầm nhìn của đa số chúng sanh.
Thiện ác từ cái nhìn khách quan.
Mặc dù Phật pháp khuyến khích sự tự thân thể nghiệm
những gì gọi là tốt xấu, khổ vui. Thế nhưng sự hạn
chế trong hiểu biết cá nhân dễ tạo ra cái nhìn phiến
diện. Đức Phật dạy trong nhiều bài kinh là một người
hành động nên xét là điều đó “có được bậc trí tán
thán hay khiển trách”. Và tất nhiên một lượng định
khách quan khác là “đối chiếu với kinh, đối chiếu
với luật” hay Tam Tạng Kinh Điển. Tư ý chủ quan có
thể tạo nên những sai lầm đáng tiếc.
Bài
học ngày
26.12.2022
QUẢ CỦA NGHIỆP
Quả của nghiệp là đề tài gây nhiều ngộ nhận và tranh luận.
Quan niệm “làm lành được vui, làm ác bị khổ”
thường rất phổ biến khi nói về quả của nghiệp.
Nhưng chính điều nầy tạo nên những hoài nghi vì
trên thực tế nhiều người sống với nhiều thủ đoạn
ác độc vẫn thành công thăng tiến trong cuộc sống
trong lúc cũng có nhiều người hiền lương lại lận
đận.
Để làm rõ điều nầy trước hết cần nói về bốn phạm trù chiêu cảm
của nghiệp quả.
a.
Trên bình diện nội tâm. Một người tạo thiện nghiệp với thiện tâm đúng
nghĩa thì tâm thanh thản, an lạc. Chính hành
động hiền thiện tác động sanh khởi những tâm
thái nhẹ nhàng mà sau nầy khiến người đó vẫn
tiếp tục an lạc. Thí dụ như một người ra sức
giúp đở những người khốn khó. Sau nầy nghĩ tới
thường thấy hạnh phúc khi mình đã làm được việc
đó. Hệ quả nầy thường dễ nhận ra trong đời hiện
tại.
b.
Trên bình diện cá tính. Nghiệp thường làm tạo nên thói quen hay tập tính.
Thường nghiệp tốt đẹp tạo thói quen tốt, và từ
đó, tạo nên cá tánh tốt đẹp. Do tập tính tốt mà
trong giòng sanh tử chúng sanh có cá tánh hiền
thin hay hung ác
c.
Trên bình diện bối cảnh sống sung túc hay thiếu thốn. Đây là điểm mà người
ta thường nghĩ tới. Sự giàu sang, được yêu
thương, ngoại hình xinh đẹp, thông minh …là
những quả dị thục của nghiệp Những quả nây trỗ
sanh trong nhiều trường hợp khác nhau đôi khi
hoàn toàn không tương thích với hiện tại. Thí dụ
một người lười biếng bất tài nhưng trúng số độc
đắc nên có nhiều tiền bạc. Lười biếng không tạo
nên tài sán. Phước do nghiệp quá khứ nào đó trỗ
sanh thì phút chốc giàu có.
d.
Trên bình diện xã hội. Vận mệnh của một quốc gia hay trào lưu của thời đại
chịu chi phối bởi một cá nhân như nhà độc tài,
hay nhà văn hoá có ảnh hưởng lớn. như trường hợp
Khổng tử có sức dẫn đạo lớn trong văn hoá Đông
phưong xuyên suốt nhiều thế hệ.
Sự hiện hữu luôn là hỗn hợp của nhiều yếu tố. Những trộn lẫn
các quy luật về thời tiết, chủng tử, nghiệp lực,
tâm, và pháp tạo nên sự phức tạp hết sức khó
nhận thức rõ ràng.
Nghiệp lực ảnh hưởng tâm và cá tánh là điều mà một người tu
tập có thể chuyển hoá trong lúc hai điều sau
thường nằm ngoài khả năng
chuyển đổi.
Theo Phật
Pháp thì mỗi chúng sanh vốn tạo vô số nghiệp
thiện và bất thiện nhưng sự trỗ quả lành tuỳ
thuộc vào một số lý do như sống ở vùng đất tốt
lành (paṭirūpadesavāsa), có thiện hữu
(kalyāṇamittatā), và thường lui tới các những
người đức hạnh (sappurisūpassaya).
Phải hiểu về những yếu tố xa gần, nội tại ngoại tại, trực tiếp
gián tiếp thì mới có cái nhìn tương đối chính
xác về quả của nghiệp. Cái nhìn chung vẫn y cứ
trên điểm chính như Phật ngôn: Yādisaṃ vapate bījaṃ
Hạt giống nào đã gieo
Nhìn đại lược thì kệ ngôn ngắn gọn bao gồm cả những định lý về
chủng tử, về tâm, về nghiệp. Để nhận rõ chính
xác ý nghĩa bài kệ nầy cần có những khía cạnh
được bàn trong phần tiếp theo.
Bài tiếp theo: Những yếu tố chi
phối quả của nghiệp
Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng |