|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 27 tháng 12, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG XI. TƯƠNG ƯNG SAKKA. PHẨM THỨ BA (S. i, 237)
Bài
2. Kinh Xấu Xí (Dubbaṇṇiyasuttaṃ)
-CHIẾN THẮNG BẰNG AN NHẪN.
Lấy hung hãn đấu
hung hãn là thường tình. Lấy an nhẫn thắng hung bạo là đặc
hạnh của bậc trí. Ăn miếng trả miếng nuôi dưỡng hận thù.
Không may đó là nguyên nhân lôi cuốn con người vào hận thù
oan kết. Không phải dễ dàng để hoá giải tương tranh bằng sự
khiêm cung nhẫn nại. Một bài học quan trọng khác:
gặp chuyện bất bình mà tự đề cao bản thân chỉ thêm
dầu vào lửa.
Sāvatthiyaṃ jetavane. Tatra kho...pe... etadavoca –
‘‘bhūtapubbaṃ, bhikkhave, aññataro yakkho dubbaṇṇo okoṭimako
sakkassa devānamindassa āsane nisinno ahosi. Tatra sudaṃ,
bhikkhave, devā tāvatiṃsā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti –
‘acchariyaṃ vata bho, abbhutaṃ vata, bho! Ayaṃ yakkho
dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane
nisinno’’’ti! Yathā yathā kho, bhikkhave, devā tāvatiṃsā
ujjhāyanti khiyyanti vipācenti, tathā tathā so yakkho
abhirūpataro ceva hoti dassanīyataro ca pāsādikataro ca.
Tại Jetavana (Kỳ Viên), Sāvatthi (Xá Vệ).
Ở đấy Đức Thế Tôn nói:
-- Này các Tỷ khưu, thuở trước có
một dạ xoa thân tướng xấu xí ngồi trên chỗ ngồi của Thiên
chủ Sakka. Thấy vậy chư thiên cõi Tam Thập Tam bất bình, lớn
tiếng, than phiền: Thật là chuyện khó tin! thật là chuyện
hiếm thấy! Một dạ xoa xấu xí ngồi trên chỗ ngồi của Thiên
chủ Đế Thích. Nhưng điều xẩy ra là chư thiên càng bất bình,
lớn tiếng, than phiền thì da xoa ấy càng đẹp hơn, khả ái
hơn, uy nghiêm hơn.
‘‘Atha kho, bhikkhave, devā tāvatiṃsā yena sakko devānamindo
tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā sakkaṃ devānamindaṃ
etadavocuṃ – ‘idha te, mārisa, aññataro yakkho dubbaṇṇo
okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinno. Tatra
sudaṃ, mārisa, devā tāvatiṃsā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti
– acchariyaṃ vata, bho, abbhutaṃ vata, bho! Ayaṃ yakkho
dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinnoti.
Yathā yathā kho, mārisa, devā ujjhāyanti khiyyanti
vipācenti, tathā tathā so yakkho abhirūpataro ceva hoti
dassanīyataro ca pāsādikataro cāti. So hi nūna, mārisa,
kodhabhakkho yakkho bhavissatī’’’ti.
-- Này các Tỷ khưu, rồi chư thiên Tam Thập Tam Thiên đi gặp
Thiên chủ Đế Thích nói rằng:
Thưa Thiên Chủ, hiện có một dạ xoa thân tướng xấu xí ngồi
trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka. Thấy vậy chư thiên cõi
Tam Thập Tam bất bình, lớn tiếng, than phiền: Thật là chuyện
khó tin! thật là chuyện hiếm thấy! Một dạ xoa xấu xí ngồi
trên chỗ ngồi của Thiên chủ Đế Thích. Nhưng điều xẩy ra là
chư thiên càng bất bình, lớn tiếng, than phiền thì da xoa ấy
càng đẹp hơn, khả ái hơn, uy nghiêm hơn. Phải chăng dạ xoa
ấy được nuôi dưỡng bằng phẫn nộ?
‘‘Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo yena so
kodhabhakkho yakkho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekaṃsaṃ
uttarāsaṅgaṃ karitvā dakkhiṇajāṇumaṇḍalaṃ pathaviyaṃ
nihantvā yena so kodhabhakkho yakkho tenañjaliṃ paṇāmetvā
tikkhattuṃ nāmaṃ sāveti – ‘sakkohaṃ mārisa, devānamindo,
sakkohaṃ, mārisa, devānamindo’ti. Yathā yathā kho,
bhikkhave, sakko devānamindo nāmaṃ sāvesi, tathā tathā so
yakkho dubbaṇṇataro ceva ahosi okoṭimakataro ca.
Dubbaṇṇataro ceva hutvā okoṭimakataro ca
tatthevantaradhāyī’’ti. Atha kho, bhikkhave, sakko
devānamindo sake āsane nisīditvā deve tāvatiṃse anunayamāno
tāyaṃ velāyaṃ imā gāthāyo abhāsi –
Này các Tỳ khưu, Thiên chủ Sakka đi đến Dạ xoa nuôi dưỡng
bằng phẫn nộ ấy; sau khi đến đắp thượng y vào một bên vai,
đầu gối chân phải quỳ trên đất, chấp tay vái chào dạ xoa và
tự giới thiệu ba lần: "Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka!
Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka!". Mỗi lời xưng tên của
Thiên chủ Đế Thích càng khiến dạ xoa kia xấu đi và cuối cùng
biến mất.
Này chư Tỳ khưu, rồi Thiên chủ Đế Thích ngồi trên chỗ ngồi
của mình, sau khi giáo hoá chư thiên đã nói lên kệ ngôn:
‘‘Na sūpahatacittomhi, nāvattena suvānayo;
Ta không bị chọc tức
Khi giận không nói ác
‘‘Na sūpahatacittomhi = tâm ta
không dễ bị chi phối
Một
lần nữa chữ yakkha - dạ xoa- ở đây chỉ cho loài hoá sanh có
nhiều uy lực chứ không nên hiểu theo nghĩa hung thần, quỹ dữ
theo thông thường. Theo
Sớ giải thì dạ xoa trong bài kinh nầy là một phạm thiên ở
cõi sắc giới nghe tiếng Thiên chủ Sakka là người có đức hạnh
nhẫn nại cao độ nên đến thử lòng. Vị phạm thiên biến thành
dạ xoa lùn thấp, bụng phệ, màu da xấu xí. Sớ
giải kinh Pháp cú ghi rằng chỗ ngồi của Thiên chủ Đế Thích
là ngai hoàng thạch (paṇḍukambalasila) (Dhp-a I273,9-12). Theo
Sớ Giải thì Thiên chủ Đế Thích từng được nghe là: Với đối
thủ không thể dùng biện pháp mạnh thì nên kiên định trong sự
nhẫn nhục. Và thiên chủ đã áp dụng chiến thuật nầy một cách
hiệu quả. Cụm từ
sūpahatacittomhi theo Sớ giải gồm su + upahatacitto + ’mhi
mang ý nghĩa là không dễ bị chi phối, hay bị tổn giảm
(nipātamattaṃ)
Mệnh đề
nāvattena suvānayo
(n’āvattẹ ̣ na suvānayo) theo Sớ giải hàm ý: ta không dễ
bị lôi cuốn vào vòng xoáy của phẫn nộ hay bị sự bất bình sai
sử (Nāvattena suvānayoti na kodhāvattena suānayo, kodhavase
vattetuṃ na sukaromhīti vadati). Đây cũng là một trong bảy
điều phát nguyện hành trì khi Đế Thích còn thân nhân loại.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |