|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 28 tháng 12, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG XI. TƯƠNG ƯNG SAKKA. PHẨM THỨ BA (S. i, 238)
Bài
3. Kinh Phép Thuật Sambari (Sambarimāyāsuttaṃ)
-KHÔNG CHỮA BỆNH KHIẾN BỆNH THÀNH NAN Y.
Tất cả việc chữa
bệnh bắt đầu từ sự chấp nhận có bệnh và chịu điều trị. Vì lý
do gì đó mà bệnh nhân từ chối trị liệu thì căn bệnh, dù tầm
thường, cũng hoá thành nan y. Đây không phải là trường hợp
hiếm hoi đơn lẻ mà hầu hết chúng sanh không nhận thức khổ
đau và nhân sanh khổ nên triền miên thống khổ. Dù do chấp
ngã hay chấp thủ sở y đều là nguyên nhân sâu xa khiến cho
giòng sanh tử kéo dài. Mấy ai khổ lại quyết tìm con đường
thoát khổ?
Sāvatthiyaṃ...pe... bhagavā etadavoca – ‘‘bhūtapubbaṃ,
bhikkhave, vepacitti asurindo ābādhiko ahosi dukkhito
bāḷhagilāno. Atha kho bhikkhave, sakko devānamindo yena
vepacitti asurindo tenupasaṅkami gilānapucchako. Addasā kho,
bhikkhave, vepacitti asurindo sakkaṃ devānamindaṃ dūratova
āgacchantaṃ.
Tại Jetavana (Kỳ
Viên), Sāvatthi (Xá Vệ).
Ở đấy Đức Thế
Tôn nói:
Disvāna sakkaṃ devānamindaṃ etadavoca – ‘tikiccha maṃ
devānamindā’ti. ‘Vācehi maṃ, vepacitti, sambarimāya’nti. ‘Na
tāvāhaṃ vācemi, yāvāhaṃ, mārisa, asure paṭipucchāmī’’’ti.
‘‘Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo asure paṭipucchi –
‘vācemahaṃ, mārisā, sakkaṃ devānamindaṃ sambarimāya’nti? ‘Mā
kho tvaṃ, mārisa, vācesi sakkaṃ devānamindaṃ
sambarimāya’’’nti. Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo
sakkaṃ devānamindaṃ gāthāya ajjhabhāsi –
-- Này các
Tỷ khưu
Vepacitti thấy Thiên chủ Sakka từ xa đã cất tiếng:
‘‘Māyāvī maghavā sakka, devarāja sujampati;
Hỡi Thiên chủ Magha
maghavā sakka devarāja sujampati = hỡi Thiên chủ Đế Thích,
phu quân của Sujā,
(Chủ từ Māyāvī được hoán vị để phù hợp cho thích văn)
Thông
thường loài hoá sanh không có bệnh khổ như loài người nhưng
A tu la vương bị khổ bệnh “thần trí điên đảo” do lời khiển
trách của những đạo sĩ sống ở bờ biển (xem Kinh Ẩn sĩ Miền
Duyên Hải). (Chương Đế Thích, Tiều Phẩm I, bài kinh số 10)
Sambarimāya
hay phép thuật Sambarī gồm pha trộn ba thứ: huyễn thuật, ma
thuật, ảo thuật. Thần lực của chư thiên do phước sanh. Các a
tu la vương luyện thêm phép thuật sambarī. Đối với chư thiên
hiền thiện thì đó là tà thuật. Thiên chủ Sakka hỏi để xem
căn nguyên của bệnh trạng. Theo
Sớ giải các a tu la đã nói nói A tu la vương: “Đế Thích
không có phép thuật sambarī mà còn khiến chúng ta thất điên
bát đảo, nếu có phép thuật chúng ta sẽ hoàn toàn bị đánh
bại. Xin đừng vì chuyện riêng mà làm hỏng đại sự”. Sớ
giải Sambara nguyên là a tu la vương đầu tiên (ādipurisa)
luyện phép thuật sambarī. A tu la vương Sambara thật sự đã
sanh vào địa ngục một trăm năm (thời gian nói theo cõi tam
thập tam thiên) do ác niệm chứ không phải do luyện phép
thuật. A tu la vương Vepacitti muốn từ chối tiết lộ bí kíp
luyện sambarī nên đã nói: “Người luyện phép thuật sambarī
sau nầy phải sa vào địa ngục thống khổ một trăm năm tương tự
như A tu la vương Sambara”. Cũng
theo Sớ giải, Thiên chủ Đế Thích có thể trị lành bệnh cho A
tu la vương bằng cách đưa đến gặp những ẩn sĩ sống dọc theo
bờ biển, bấy giờ những vị nầy vẫn còn sống, để sám hối thì
tự khắc khỏi bệnh. Nhưng do tính cố chấp
(vañcitattā) của
Vepacitti nên việc bất thành.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |