|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 29 tháng 12, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ VII. PHẨM A LA HÁN (arahantavagga) Gồm 10 bài kệ với 10 duyên sự. - Kệ số 9 (dhp 98)
Duyên sự: Bài
kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú tại Jetavana, thành
Sāvatthi, do câu chuyện của trưởng lão Revata ở rừng keo
gai.
Ngài Revata là em trai út của trưởng lão Sāriputta, mới bảy
tuổi nên chưa xuất gia. Mẹ
của trưởng lão Sāriputta nghĩ rằng: “Con trai trưởng của ta
đã dẫn dắt ba em gái là Cālā, Upacālā, Sīsūpacālā, và hai em
trai là Cunda, Upasena đi tu cả rồi. Nay chỉ còn đứa út là
Revata chưa đi tu. Gia sản nầy không thể không có người thừa
tự, ta hãy tảo hôn cho con út để cột chân nó ở nhà”. Bà
Sāri bèn giạm hỏi một bé gái con nhà môn đăng hộ đối để cưới
về cho con trai út.
Ngày cưới, gia đình cho Revata ăn mặc tươm tất dẫn qua nhà
gái để làm lễ và rước dâu. Trong lúc làm lễ, quyến thuộc hai
bên tề tựu đông đúc, người ta sắp xếp mời bà ngoại cô dâu
cầm bình nước rưới lên tay đôi tân lang tân nương chúc phúc
cho hai trẻ hạnh phúc và sống lâu. Cậu
bé Revata thấy bà lão 120 tuổi với thân hình xấu xí như vậy
thì sanh tâm kinh cảm nghĩ rằng mình phải xuất gia theo các
anh chị thôi. Đã
lập tâm thoát ly nên Revata trên đường rước dâu về nhà đã vờ
bị chột bụng chốc chốc kêu ngừng xe…
Cuối cùng cậu bé bảo đoàn xe đưa cô dâu về trước, cậu ta sẽ
về sau. Thừa dịp, cậu ta trốn đi sâu vào rừng, gặp chư tỳ
kheo ẩn lâm bèn xin cho xuất gia. Chư tăng hỏi cậu là con
cái nhà ai và có được cha mẹ cho phép xuất gia không?
Revata tự nhận là em trai út của trưởng lão Sāriputta. Vì
trước đó chư tăng được trưởng lão Sāriputta nói tôi đã cho
phép em út tôi xuất gia nếu nó có đến xin chư Tăng tiếp độ,
tôi thay quyền cha mẹ. Bởi thế khi chư tỳ kheo nghe Revata
nói là em trai út của trưởng lão Sāriputta thì các vị chấp
nhận và làm lễ cho Revata thọ giới sa di.
Xuất gia xong sa di Revata xin thọ giáo đề mục thiền chỉ
quán nơi thầy tế độ rồi đi sâu vào khu rừng Khadira (cây keo
gai) để tu thiền, chỉ trong thời gian an cư kiết hạ, sa di
Revata đã chứng đắc A la hán. Đến
ngày mãn hạ, trưởng lão Sāriputta xin phép đức Phật để đi
thăm sư đệ Revata. Đức Thế Tôn bảo rằng Ngài cũng cùng đi
thăm Revata. Đức
Phật dẫn đoàn chư tăng đi vào khu rừng Khadira. Chư thiên
xây dựng 500 ngôi tịnh thất nóc nhọn và một ngôi tịnh thất
trang trọng dành cho đức Phật, đồng thời tạo cảnh quang nơi
trú xứ của sa di Revata thật ngoạn mục. Đức Phật và năm trăm
tỳ kheo tuỳ tùng lưu lại ở đấy một tháng.
Trong đoàn tuỳ tùng của đức Phật có hai vị tỳ kheo già. Hai
vị nầy được thấy chỗ ở của Ngài Revata được kiến trúc tiện
nghi thì chỉ trích: “Vị sư nầy tưởng sống viễn ly nơi rừng
vắng, nào đâu bận rộn chỉnh trang trú xứ như vầy thì làm sao
rảnh để hành sa môn pháp”.
Ngày đức Thế tôn cùng chúng tỳ kheo từ giả trở về Sāvatthi,
Ngài dùng thần thông khiến hai sư già ấy bỏ quên tư cụ trong
am thất. Đi được vài ngày hai sư già nhớ ra đã bỏ quên tư cụ
bèn trở lại khu rừng Khadira thì họ thấy cảnh rừng hoang
vắng đáng sợ, đến địa điểm thì thấy tư cụ của họ treo trên
cành cây. Hai
sư già ấy đuổi kịp đoàn tăng lữ cũng vừa về đến thành
Sāvatthi.
Sáng hôm sau, hai sư già đắp y mang bát đến nhà tín nữ
Visākhā để nhận thức ăn. Nữ thí chủ hỏi hai vị có đi theo
bậc đạo sư đến viếng trú xứ của trưởng lão Revata không? Hai
vị đáp: có đi theo. Nữ thí chủ hỏi tiếp: trú xứ của trưởng
lão Revata có ngoạn mục không? Hai vị đáp: chỗ ấy âm u hoang
vắng như trú xứ ngạ quỉ vậy. Kế
đó, có hai tỳ kheo trẻ cũng đến nhận thức ăn. Bà Visākhā hỏi
thăm về chuyến đi như hỏi hai vị sư già. Các vị nầy phấn
khởi kể lại cảnh đẹp thần tiên ở khu rừng Khadira. Lát
sau, đức Thế Tôn cùng chúng tỳ kheo đến nhà tín nữ Visākhā.
Đức Thế Tôn ngự trên chỗ ngồi được sắp đặt, bà Visākhā đã
dâng cúng vật thực đến đức Phật và chư Tăng; khi các Ngài
dùng bữa xong, bà Visākhā đảnh lễ đức Thế Tôn và bạch hỏi:
“Bạch Thế tôn, trong số tỳ kheo đi với Ngài đến trú xứ của
trưởng lão Revata, vài vị thì nói cảnh thật khả ái, vài vị
thì nói cảnh hoang sơ gai góc. Cảnh đó ra sao?”. Đức
Phật đáp: “Này tín nữ, các vị A la hán trú ngụ chỗ nào, dù
làng mạc hay rừng rú, chỗ ấy cũng là cảnh khả ái”. Rồi Đức
Phật nói lên bài kệ: “Gāme vā yadi vā ’raññe … taṃ
bhūmiṃ rāmaṇeyyakan ’ti”.
Chánh văn:
(dhp 98)
Gāme vā yadi vā
’raññe Thích văn:
gāme [định sở cách số ít
của danh từ nam tính gāma]
thôn xóm, làng mạc Việt văn: (pc 98) Làng mạc hay rừng rú
Chuyển văn:
Gāme vā yadi araññe vā ninne vā yadi thale vā yattha
arahanto viharanti taṃ bhūmiṃ rāmaṇeyyakaṃ. Dù
ở xóm làng hay rừng rú, ở đồng bằng hay cao nguyên, các bậc
A la hán trú ngụ ở nơi nào thì miền đất ấy cũng khả ái.
Lý giải: Đối
với phàm phu thì khuynh hướng nội tâm khác nhau; có người
thích cảnh rừng, cảnh núi thì cho là rừng núi phong cảnh
ngoạn mục; có người thích đồng bằng sông nước thì cho là
miền quê sông nước phong cảnh hữu tình ..v.v.. Các
bậc A la hán phiền não đã đoạn tận, tâm các ngài luôn an
tịnh viễn ly nên dù trú ngụ ở nơi nào, chỗ ấy cũng đều là
cảnh ngoạn mục; cảnh yên bình bởi tâm an bình, dù là nơi
thôn xóm hay rừng núi. Tín
nữ Visākhā đã hỏi những tỳ kheo phàm phu, hai vị trẻ thì nói
nơi ấy đẹp như cảnh thần tiên, hai vị sư già thì nói nơi ấy
như cảnh ngạ quỉ. Bởi khi đức Phật và chư Tăng đến, chư
thiên kiến tạo chỗ ngụ cho đức Phật và chư Tăng cảnh rất
ngoạn mục; khi hai sư già trở lại lấy tư cụ bỏ quên thì các
tịnh thất đã biến mất nên họ thấy cảnh hoang vắng tối tăm.
Cảnh đẹp hay cảnh xấu đối với phàm phu nhận thức do thị hiếu
thị dục thôi. Lúc tín nữ Visākhā hỏi đức Phật thì Ngài đã
trả lời bằng bài kệ trên. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |